|
Từ Hội Nghị Liên
Minh Dân Tộc đến Quốc Dân Đại Hội
trong bối cảnh hải ngoại và hiện t́nh đất nước
Tổ Quốc lâm nguy!
Dân tộc Việt Nam đang đứng trên lề diệt
vong. Ruộng đất canh tác càng ngày càng thu hẹp. Năm đầu thế kỷ 21, diện
tích đất dành cho mỗi đầu người Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất thế giới.
Đồi trọc, đất cằn khô không c̣n có thể canh tác lên đến trên 15 triệu mẫu
tây. Rừng Việt Nam bị tàn phá đến mức độ chỉ một thời gian ngắn nữa, theo
cảnh cáo của Liên Hiệp Quốc Việt Nam không c̣n rừng. Hiện nay, Việt Nam là
nước với diện tích rừng hẹp nhất Đông Nam Á. hậu quả là lũ lụt sẽ triền
miên đổ ập xuống đồng bằng. Núi đồi càng ngày càng bị soi ṃn, mất đất màu
v́ không c̣n tàn cây che phủ. Chỉ một vài thập niên nữa, cứ mức độ tàn phá
rừng như hiện nay, Việt Nam không c̣n tàn cây che phủ đất nước.
Việt Nam có nguồn nước lớn vào bậc nhất thế giới, nguồn nước tự phục hồi,
nguồn nước mới chỉ dùng tới 2% tài nguyên nước ngọt. Việt Nam có một nguồn
nước ngầm lớn nhất Á Châu lại thêm hồ, ao, kinh, lạch, sông, đầm. Nhưng
bất hạnh thay, nguồn nước uống của nước ta đă bị ô nhiễm nghiêm trọng
nhất. hậu quả là, thân thể con người Việt Nam chứa đầy vi trùng, kư sinh
và những bệnh tật nan y do họa ô nhiễm. Liên Hiệp Quốc đă cảnh báo, Việt
Nam không tránh khỏi họa diệt vong nếu không ngăn chận được họa ô nhiễm đă
nghiêm trọng hơn bất cứ môi trường nào khác trên thế giới.
Tổ Quốc đă và đang bị tàn phá kiệt cùng. Thế mà, tập đoàn lănh đạo Cộng
Sản Việt Nam lại nhẫn tâm, táng tận dám nhượng cả đất, bán cả nước cho
Trung Cộng qua 3 hiệp định phi pháp sau đây:
1- Hiệp Định 30-12-1999, gọi là phân định biên giới, Việt Nam đă nhượng
cho trung Cộng 780 km vuông, không kể 300 m bản lề biên giới. Việt Nam mất
thêm khoảng 750 km vuông. tổng cộng, do hiệp định phi pháp kể trên, Tổ
Quốc ta đă mất khoảng trên dưới 1,500 km vuông. Nhưng hiểm nguy hơn cả,
tập đoàn Cộng Sản Việt Nam đă giúp cho Trung Cộng cơ hội ngàn vàng, chiếm
các cao điểm chiến lược dọc theo biên giới từ Quảng Ninh đến Lai Châu. Nhờ
những cao điểm chiến lược ấy, Tổ Tiên ta đă ngăn chận được các làn sóng
xâm lăng đổ ập xuống từ phương Bắc. Nhờ những cao điểm chiến lược thiên
nhiên ở phía Bắc sông bằng Giang và sông Chi Lăng, Tổ Tiên ta đă đánh tan
các đạo quân xâm lược của Bắc phương, ghi được những chiến thắng lẫy lừng
trong lịch sử. Đó là đất THỦ HIỂM của Tổ Tiên ta từ ngàn xưa. Nay, đất thủ
hiểm đă bị vỡ.
2- Hiệp định phân định hải lănh kư ngày 25-12-2002, tập đoàn Cộng Sản Việt
Nam đă dâng cho Trung Cộng 11%. Trung Cộng chiếm được 47% diện tích vịnh
Bắc Việt vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam từ những ngàn xưa. Chưa đủ, tập
đoàn lănh đạo CSVN kư thêm hiệp định hợp tác nghề cá nhượng thêm cho Trung
Cộng 16% vịnh Bắc Việt trong lănh hải Việt Nam, vịnh Bắc Việt là những
vùng rừng vàng trên hải đảo, biển bạc dưới làn nước xanh, trữ lượng cá và
hải sản lớn nhất Đông Nam Á. Với hiệp định bán nước này, tàu chiến Trung
Cộng hóa trang tàu đánh cá được quyền vào sát các cửa biển và duyên hải
Việt Nam là 28 dặm, vừa tầm tác xạ của đại pháo và hỏa tiễn. Các hải đảo ở
ngoài khơi từ Móng Cáy đến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh từ ngàn xưa là
tuyến pḥng ngự của ta, bức trường thành vô h́nh mà vĩ đại của đất nước
với những địa danh như Vân Đồn, Cát Bà, Cái Bầu, Cô Tô, cho đến Ḥn Mê,
Nghi Sơn, Cửa Sát, Mũi Ṛn, Cửa Gianh, Ḥn Lăo... Thế thủ hiểm của đất
nước dọc theo duyên hải từ Trà Cổ, Đông Bắc Quảng Ninh, cho đến Cồn Cỏ,
Cửa Việt, B́nh Trị Thiên đă bị phá vỡ. Đảo Bạch Long Vỹ, tiền đồn pḥng
ngự giữa khơi nay đă bị Trung Cộng vây bọc tạo nên một ṿng tṛn, chỉ cách
hải đảo chiến lược này 28 dặm. Ngư trường với hải sản quư giá và nhiều cá
bậc nhất biển Đông nay tập đoàn CSVN đă nhượng cho Trung Cộng được quyền
đánh cá do hiệp định bán nước nghề cá. Thế thủ hiểm, tuyến pḥng thủ vịnh
Bắc Việt của ta đă bị phá vỡ.
Thế nước nguy nan như thế. Tiền đồ Tổ Quốc thập phần lâm nguy. Đó là lư do
chính để vận động và tổ chức Hội Nghị Liên Minh Dân Tộc.
Chủ trương của Hội Nghị là phải đạt được những tiêu biểu của một liên minh
dân tộc, nghĩa là phải bao gồm mọi thành phần dân tộc, xu hướng chính trị,
xă hội và các dân tộc thiểu số Việt Nam. Chủ trương của Hội Nghị là phải
đặt trên cơ sở dân tộc thống nhất, thống nhất Kinh Thượng, thống nhất Bắc
Nam Trung, quốc nội và hải ngoại, để từ chủ hướng ấy nỗ lực làm thế nào đi
đến thống nhất ḷng người hầu có thể đại đoàn kết dân tộc.
Trước hết và căn bản nhất vẫn phải lấy tinh thần Diên Hồng để chỉ đạo và
là tư tưởng chủ đạo với nhân ḥa trong dân tâm đại kết làm phương hướng.
Theo phúc tŕnh của Ủy Ban Tổ Chức, từ đầu tháng 5 năm 2002 đến đầu tháng
6 năm 2002, 45,000 thư mời kèm tài liệu đă được gởi đến quư đồng hương
trên khắp thế giới, bao gồm cả Miên và Lào. Số thư mời kèm tài liệu về đại
hội được gởi bưu điện hạng nhất (first class) từ $4, $6, $14, qua Úc $16,
tùy theo cân lượng. Có thể nói rất tốn phí. Nhưng sự tốn phí đă hàm dưỡng
cả tấm ḷng tha thiết kính mời đồng bào trên khắp năm Châu của Ban Tổ
Chức. Đại cương số thư mời được phân loại như sau:
- 178 thư mời gởi đến các Luật Sư Việt Nam
- 612 thư mời gởi đến các Bác Sĩ Việt Nam tốt nghiệp tại các trường Đại
Học Y Khoa Hoa Kỳ và khoảng 950 thư mời gởi đến các Bác Sĩ Việt Nam xuất
thân từ Đại Học Y Khoa Saigon, Huế và Hà Nội (trước 1954).
- 86 thư mời gởi đến các Tướng Lănh Việt Nam.
- 362 thư mời gởi đến các Dân Biểu, Nghị Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa và một số
Nghị Viên Tỉnh, Thị và Đô Thành.
- 64 thư mời gởi đến các Ban Chấp Hành Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam của 64
Đại Học trên thế giới.
- 682 thư mời gởi đến 682 chùa Việt Nam trên toàn thế giới.
- 524 thư mời gởi đến các Giáo xứ và các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam hải
ngoại trên khắp thế giới.
- 482 thư mời gởi đến các nhà thờ Tin Lành Việt Nam trên khắp thế giới.
- 1270 thư mời gởi đến các sĩ quan QLVNCH.
- 197 thư mời gởi đến các Hội Đoàn, các Tổng Hội Quân, Binh Chủng, các
Quân Trường (Đà Lạt, Thủ Đức, Đồng Đế).
- 450 thư mời gởi đến các Hội Ái Hữu Đồng Hương trên khắp thế giới.
- 520 thư mời gởi đến các lănh tụ Đảng, Phong Trào, Mặt Trận, Lực Lượng,
Liên Minh...
- 624 thư mời gởi đến các Kỹ sư Công Chánh Việt Nam Cộng Ḥa.
- 248 thư mời gởi đến báo chí Việt ngữ và các đài Phát Thanh Việt Nam trên
khắp thế giới.
- 1286 thư mời gởi đến đồng bào Việt Nam ở cao Miên, Lào, Thái Lan, Phi
Luật Tân (Manila và đảo Palawan).
- 167 thư mời gởi đến đồng bào Việt gốc Hoa ở Tân Gia Ba, Đài Loan.
- 1400 thư mời gởi đến các cơ sở thương mại và doanh nghiệp Việt Nam ở Hoa
Kỳ và trên khắp thế giới.
- 128 thư mời gởi đến các thân hào nhân sĩ Việt Nam trên khắp thế giới.
- 172 thư mời gởi đến các cộng đồng Việt Nam trên khắp thế giới.
Về ngoại quốc, một cách rất trịnh trọng:
- 162 thư mời được gởi đến 162 quốc gia trên thế giới.
- 100 thư mời gởi đến Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ.
- 450 thư mời gởi đến các Dân Biểu Hạ Viện, Quốc Hội Hoa Kỳ.
- 50 thư mời gởi đến các Thống Đốc Liên Bang Hoa Kỳ.
- Khoảng 280 thư mời gởi đến các Thị Trưởng, các Nghị Sĩ và Dân Biểu Tiểu
Bang ở Hoa Kỳ.
Kết quả: Trước ngày Hội Nghị khai mạc, Ban Tổ Chức nhận được 5820 thư phúc
đáp của đồng bào trên khắp thế giới từ Hoa Kỳ đến Gia Nă Đại, Úc, Tân Tây
Lan, Cao Miên, Ai Lao, Tân Gia Ba, Đài Loan, Nhật, Thái Lan, Tây Âu, Đông
Đức, Nga Sô... Số thư phúc đáp này đă đưa vào máy điện toán, hiện lưu trữ
tại văn pḥng Trung Ương của Ủy ban Tổ Chức và sẽ lên mạng lưới Internet.
Tất cả các thư phúc đáp đều bày tỏ sự ủng hộ, cổ vơ, tán thành và cầu chúc
Hội Nghị Liên Minh Dân Tộc thành công.
Tiền Hội Nghị Liên Minh Dân Tộc khai mạc sáng ngày 29 tháng 6 năm 2002 tại
Trung Tâm Hội Nghị Sequoia, Buena Park, Nam Cali, được tiến hành theo đúng
nghi lễ và thể thức của một Hội Nghị cấp Quốc Gia, kiểm điểm thật kỹ các
thành phần đại biểu tham dự, sau lễ khai mạc và các cuộc thảo luận vào
buổi sáng, ban Tổ Chức và tiếp tân phúc tŕnh có 817 người tham dự với tư
cách Đại Biểu gồm có:
- Phái đoàn Đại Biểu đến từ Tây Âu và Đông Âu có 97 Đại Biểu gồm: Pháp
quốc, Đức quốc, Na Uy, Thụy Sĩ. Phái đoàn đông đảo nhất là phái đoàn Ư Đại
Lợi. Phái đoàn Đại biểu Úc Châu gồm đại biểu đến từ các tiểu bang
Victoria, Queensland, Nam Úc và New South Well. Phái đoàn Gia Nă Đại gồm
41 đại biểu đến từ Toronto, Vancouver BC, Montreal, Quebec. Phái đoàn Hoa
Kỳ đến từ các tiểu bang Arizona, California, Colorado, Florida, Georgia,
Hawaii, Illinois, Indiana, Kansas, Louisiana, Massachusetts, Mariland,
Missouri, New York, New Jersey, North Carolina, New Mexico, Oregon,
Oklahoma, Texas, Utah, Virginia, Washington DC, Washington State.
THÀNH PHẦN DÂN TỘC
Do hoàn cảnh rất khó khăn, số đại biểu các đồng bào Tây Nguyên và Thượng
Du đến tham dự tuy chỉ có tính cách tiêu biểu nhưng cũng đủ ư nghĩa và đủ
tư cách đại biểu cho tiếng nói của các dân tộc thiểu số Việt Nam.
1- Phái đoàn đại biểu đồng bào thiểu số tây Nguyên do các ông:
- Y Bhuat Eban, Chủ Tịch Tổ Chức Nhân Quyền Montagnard.
- Ro Bleo, Chủ Tịch Hội Đồng các sắc tộc Tây Nguyên (Thiểu số người
Thượng).
- Y Daler Buonya, Thành viên Dân Tộc Thiểu Số Người Thượng.
Phái đoàn đại biểu đồng bào thiểu số Thượng Du do Trưởng đoàn Đại biểu
Nông Thị Anh (đến từ Maryland), phó đoàn đại biểu, ông Bế Viết Văn Quang,
Illinois; Đèo Văn Mại, Kentucky.
2- Phái đoàn đại biểu đồng bào Hoa do ông Châu Chương cầm đầu gồm 6 đại
biểu đến từ New York, San Francisco, Singapore và Thái Lan.
Đại biểu đồng bào Việt Khmer: ông Danh Hướn, ông Kim Muôn.
Đại biểu đồng bào Chàm miền Trung: Chế Viết Bản đến từ Kitchener, Canada.
Giới tính và tuổi tác:
Số đại biểu phụ nữ đông đảo ngoài sự dự đoán của Ủy ban Tổ Chức đạt tới
27%.
Số đại biểu giới trẻ Nam và Nữ đạt đến tỷ lệ vượt ngoài sự mong ước: 40%.
Các vị lăo ông lăo bà, từ 70 tuổi đến ngoài 90 tuổi: 116 vị. cao niên nhất
là lăo ông 93 tuổi, thứ nh́ là lăo ông 92 tuổi, các lăo bà lên đến 25 cụ
trên 75 tuổi.
Tiêu biểu Bắc Nam qua các chế độ:
Phải thừa nhận rằng có một thực tại mà đă 27 năm qua, từ ở trong nước lẫn
hải ngoại vẫn chưa xóa bỏ được, đó là di sản của 2 chế độ VNCH ở miền Nam
và CSVN ở miền Bắc.
Đại Hội Quốc Dân đă đạt được thành tựu đáng kể, tuy chỉ mới tiêu biểu. Mặc
dù các đại biểu tuy đại đa số sinh trưởng, chiến đấu và phục vụ dưới chế
độ VNCH nhưng, đại hội đă đạt được thành quả sau đây:
- 12 đại biểu (thuộc giới trẻ) sinh trưởng và phục vụ dưới chế độ CSVN ở
miền Bắc.
- Phái đoàn đại biểu đồng bào Hải Ninh, Đông Xuyên và Hải Pḥng: 7 người
(2 nữ, 5 nam) đến từ Vancouver, miền Tây Canada.
- hai lực lượng đấu tranh gởi đại biểu tham gia đại biểu đó là mặt trận
Dân Chủ (Phái bộ hải ngoại tại Đông Âu), đảng Dân Chủ Tự Do (Văn pḥng
Trung Ương tại Bá Linh).
- Ba lăo niên xuất thân từ MTGPMN (Việt Cộng) đă phản tỉnh, đến tham dự
hội nghị.
Hội nghị và các tiêu biểu Liên Tôn:
Hội nghị đă được các Liên Tôn đoàn kết, kết hợp qua các vị lănh đạo tinh
thần, tiêu biểu của Ngũ Giáo:
- Phật Giáo: Gồm Ḥa Thượng Thích Giác Lượng (Phó Chủ Tịch, HĐĐH PGVNTN
hải ngoại). Ḥa Thượng HT. Thích Giác Sĩ cuả Tịnh Xá Giác Y, Thượng Tọa
Thích Tuệ Uy, Thượng Tọa Thich Huệ Minh Chủ tŕ chùa Hoa Lâm Thiền Tịnh,
Đại Đức Thích Tuệ Nghiêm, Đại Đức Thích Tuệ Minh, Ni cô Diệu Từ.
- Công Giáo: Linh Mục Phan Phát Hườn.
- Cao Đài: Hiền Tài Nguyễn Thanh Liêm, Hiền Tài Nguyễn sao Đáp.
- Ḥa Hảo: cụ Phan Thanh Nhăn, lăo niên, nguyên là cận vệ của Đức Huỳnh
Giáo Chủ.
- Tin Lành: Mục Sư Nguyễn Phú Cam
- Cư Sĩ Phật Giáo: Giáo Sư Nguyễn Cao Thanh, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế giới và Cư sĩ Đào Hữu Hạnh.
- Chức sắc Công Giáo: Ông Nguyễn Văn Can, Chủ Tịch Phong Trào Gió Dân
Indianapolis.
Đại biểu tinh thần từ các Tôn giáo:
Do những hoàn cảnh đặc biệt không thể về tham dự, Hội Nghị nhận được 39 lá
thư của các vị lănh đạo tinh thần, 11 lá thư của các Linh Mục bày tỏ ư
kiến tán thành Hội Nghị Liên Minh Dân Tộc và kêu gọi đại đoàn kết dân tộc,
5 lá thư của các Mục sư Tin Lành tán thành Hội Nghị và chúc mừng Hội Nghị,
23 lá thư của các Thượng Tọa, Đại Đức và Ni Sư từ Hoa Kỳ, Gia Nă đại, Úc
Châu gởi về tán dương Hội Nghị, chúc Hội Nghị thành công. Đặc biệt thư của
Ḥa Thượng Thích Tâm Châu, Thượng Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế
Giới từ Tổ Đ́nh ở Montreal gởi về.
TỪ HỘI NGHỊ LIÊN MINH DÂN TỘC ĐẾN QUỐC DÂN ĐẠI HỘI VÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
TỰ DO.
Thể theo đề nghị của các vị lănh đạo tinh thần, của nhị vị niên trưởng Hội
Nghị và 128 lá thư từ các nơi gởi về, đề nghị: đây là một cơ hội tốt nhất
để cụ thể hóa và cơ chế hóa một thực thể chính trị, do vậy cần chuyển hội
nghị thành Quốc Dân Đại Hội th́ mới có thể thực hiện các mục tiêu chủ yếu
của hội nghị phải hoàn măn, các lư do cơ bản đại cương được các đại biểu
nêu trên tŕnh bày:
1- Mục tiêu chính và tiên khởi của Hội Nghị là đưa CSVN ra trước ṭa án
quốc tế về 3 trọng tội:
- Chống lại nhân loại.
- Tàn sát hàng triệu đồng bào Việt Nam.
- Nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng bất hợp pháp một cách thô bạo.
Đây là việc đ̣i hỏi phải có thời gian, phải có một tổ chức có căn bản quốc
dân và hợp t́nh hợp lư để lănh trách nhiệm thực hiện 3 mục tiêu kể trên.
Trên thực tế, tổ chức một hội nghị như Hội Nghị Liên Minh Dân Tộc rất khó
khăn, phải chuẩn bị ít nhất hàng năm không kể tốn kém. Do vậy, biến Hội
Nghị thành Quốc Dân Đại Hội là một sáng kiến rất thực tế, hợp t́nh, hợp
lư, hợp cảnh. Do vậy, Hội Nghị đă biểu quyết với đa số tuyệt đối đồng ư
biến Hội Nghị Thành Quốc Dân Đại Hội.
Đưa CSVN ra ṭa với 3 trọng tội kể trên chưa đủ, vấn đề cấp bách cũng là
đ̣i hỏi của t́nh thế. Mục tiêu của cuộc đấu tranh kéo dài suốt hơn nửa thế
kỷ trước sau vẫn là phải dẹp đảng CSVN và giải thế chế độ Việt Nam Cộng
Sản. Do vậy, để có chính danh, có căn bản pháp lư quốc gia và công pháp
quốc tế, để hữu hiệu hóa, hiện thực hóa cơ chế và cơ cấu hóa, nhất là để
có sự tiếp nối quốc thống và kế thừa các chế độ hợp pháp trong quá khứ,
cần phải thành lập Chính Phủ Việt Nam Tự Do như một đ̣i hỏi tất yếu của
t́nh h́nh đất nước và bối cảnh của cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại.
QUỐC DÂN ĐẠI HỘI, CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TỰ DO RA ĐỜI TRONG HIỆN T̀NH ĐẤT
NƯỚC.
Tổ quốc đang lâm nguy - Dân tộc Việt Nam đang bên lề của vực thẳm diệt
vong. Việt Nam hiện nay đang đứng trước một nguy cơ lớn lao chưa từng có
trong lịch sử. Cứu nuớc là nhiệm vụ chung của mọi người, mọi giới, trong
và ngoài. Nhưng trong hoàn cảnh quốc nội hiện nay, đồng bào bị trói chân
trói tay, bịt mắt bịt miệng, chưa thể nổi dậy. Hải Ngoại, một phần thân
mệnh dân tộc ở nước ngoài, hải ngoại phải lănh sứ mệnh cứu nước. Dù đă trở
thành công dân Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Áo, Gia Nă Đại, Úc Châu, v.v... dù mang
bất cứ quốc tịch hay thường trú dân nào khác, đồng bào hải ngoại vẫn là
giống ṇi Việt Nam, vẫn c̣n có trách nhiệm đối với dân tộc và tiền đồ tổ
quốc. Vả lại, cộng đồng Việt Nam hải ngoại vẫn là một thực thể tỵ nạn, một
thực thể chính trị, văn hóa và truyền thống của đất nước ở nước ngoài. Về
tinh thần, cộng đồng Việt Nam hải ngoại là một nước Việt Nam lưu vong ở
nước ngoài và phải được thống nhất, phải kết đoàn, phải cơ chế hóa thành
một hệ thống có lănh đạo, có chấp hành, có pháp chế, tinh thần kế thừa
pháp chế quốc gia trên căn bản Hiệp định Elysée, Pháp Quốc, trao trả độc
lập và thống nhất cho quốc gia Việt Nam. Quốc Dân Đại Hội ra đời và hoạt
động trong khuôn khổ này, trên căn bản luật pháp Quốc gia và Quốc tế công
pháp mà Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và các
Công Ước Quốc tế về nhân quyền là nền tảng căn bản chỉ đạo.
Do hoàn cảnh đặc biệt ở hải ngoại, đồng bào tản mạn khắp 5 châu, lại phân
hóa và nhiều bất đồng cách biệt nên Quốc Dân Đại Hội vẫn là cơ chế MỞ
RỘNG. Hội Đồng Điều Hợp c̣n là Lâm Thời, tiếp tục công cuộc vận động Đợt
II, mời đồng bào các giới tham gia.
Nguyên tắc cơ bản của dân chủ là đa nguyên, tôn trọng mọi bất đồng, kể cả
dị ứng và chống đối. Đối lập là một quyền thiêng liêng trong sinh hoạt dân
chủ và là quyền hiến định. Quốc Dân Đại Hội ra đời thể theo ư nguyện của
Quốc Dân và tiếng gọi cứu nguy của Tổ Quốc và Dân Tộc. Quốc Dân Đại Hội là
cơ chế tinh thần và MỞ, lấy tinh thần Diên Hồng làm chủ đạo và nhân ḥa
làm phương hướng để nỗ lực hóa giải mâu thuẫn, kể cả những chống đối trong
cộng đồng v́ lư do này hay lư do khác c̣n đứng ngoài hay chưa chấp nhận,
nhưng Quốc Dân Đại Hội quyết nỗ lực tối đa để những mâu thuẫn trong nội bộ
cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại không trở thành mâu thuẫn đối kháng. Chỉ có
tập đoàn lănh đạo Cộng sản Việt Nam là đối lực duy nhất mà ta phải đối
kháng và giải thể chúng.
Tinh thần Việt Nam bất diệt!
Tổ Quốc Việt Nam muôn năm!
Quốc Dân Đại Hội 30 tháng 6/2002
|
|