BÀI THAM LUẬN TUYỂN CHỌN GỞI ĐẾN
HỘI NGHỊ LIÊN MINH DÂN TỘC VIỆT NAM

T̉A ÁN QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ VIỆT NAM
Luật Sư Nguyễn Thành - San Jose, California


LTS. Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực và việc đảng CSVN kư hiệp ước "hiến đất, dâng biển" cho Trung Quốc là hai đề tài thời sự đang được mọi người hết sức quan tâm. Trong số hiếm hoi bài viết thuộc giới hiểu biết luật pháp người Việt về Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực thiết lập ngày 11/ 4/2002, bài viết của LS Nguyễn Thành dưới đây thể hiện một sự nghiên cứu công phu và cung cấp nhiều dữ kiện khả tín. Hơn nữa, với tinh thần của người tranh đấu muốn góp phần chuyên môn vào việc giải thể chế độ Cộng Sản đang bách hại quê hương và dân tộc, ông đă không ngần ngại đưa ra các giải pháp pháp lư quốc tế khả thi dựa trên các cơ sở hữu lư và lư luận vững chắc.
LS Nguyễn Thành là khuôn mặt quen thuộc của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Bắc California và từng có nhiều đóng góp tích cực. Ông là Tổng thư kư Hội Luật Gia Việt Nam California (1994-1995) do LS Nguyễn Hữu Thống làm Chủ tịch và Phụ tá của GS Nguyễn Văn Canh trong Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lănh Thổ Việt Nam trong việc "thực hiện và công bố" vào dịp 30/4/1995 tài liệu gía trị Điạ Lư Biển Đông với Hoàng Sa-Trường Sa do cựu Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San biên soạn nhằm phản kháng 10 cán bộ Trung Quốc đă đến Đài Bắc năm 1994 hội họp với giới nghiên cứu Đài Loan để t́m cách hợp thức hóa việc xâm chiếm hai nhóm đảo Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam.
Từ tháng 6/2000, sau khi ḥa giải giữa một nhóm "người chống cộng" ở San Jose quen biết không thành, LS Nguyễn Thành ít xuất hiện trong sinh hoạt cộng đồng địa phương và dùng thời gian vào việc nghiên cứu luật pháp quốc tế với hoài băo "vận dụng" vào việc đấu tranh giải thể chế độ Cộng Sản tại quê nhà. Được biết, gần đây ông đă đến Paris, Geneva, La Hague, Rome... với tư cách hoàn toàn cá nhân như ông đă viết trong bài để trao đổi, nghiên cứu tại chỗ và sưu tầm tài liệu liên quan tới Ṭa Án Quốc Tế và 2 hiệp ước vô cùng di hại cho đất nước và dân tộc do đảng CSVN chủ trương và kư kết với Trung Cộng.
Chúng tôi tin rằng bài viết dưới đây của ông có nhiều đóng góp hữu ích, mời bạn đọc theo dơi.

___________

* Lời Thưa
1. Cho đến ngày 7/4/2002 chúng tôi trở lại Hoa Kỳ, sau ba tuần lễ đến một số nước ở Âu-châu một lần nữa với tư cách cá nhân để tiếp xúc, trao đổi, t́m hiểu tại chỗ và sưu tầm tài liệu cần thiết cho một mục tiêu theo đuổi từ lâu, Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực vẫn c̣n là giấc mơ của mọi người. Theo tài liệu của tổ chức Công Lư không Biên Giới (Justice Sans Frontières), tuy Quy Chế Rome thiết lập Ṭa Án được 120 nước kư kết (signature) từ ngày 17/7/1998 (chữ kư 121 của chính quyền Mỹ Clinton cũng từ cuối 2000), số nước phê chuẩn (ratification) Quy Chế đến cuối tháng 3/ 2002 vẫn dậm chân tại chỗ ở con số 56, chưa đủ số 60 nước qui định để có hiệu lực.
Từ tổ chức Công Lư không Biên Giới (1), một trong số trên 800 tổ chức phi chính phủ (non-govern -mental organization) từng ra sức vận động việc triệu tập Hội Nghị Rome để thành lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực, đến giới luật gia, các nhà tranh đấu và giới truyền thông quốc tế chúng tôi tiếp xúc trong chuyến đi lần này (như GS Vũ Quốc Thúc, TS Nguyễn Q. Hảo, TS Nguyễn P. Liên, các GS Nguyễn Văn Lan, Phạm Kế Viêm, nữ LS trẻ Dominique Gérard, SV Cao học Triết Alain,...) không ai ngờ Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực lại có thể ra đời vào ít ngày sau đó v́ thực tế, nó đă bị "đá qua đá lại ṿng ṿng ở Liên Hiệp Quốc" từ hơn 50 năm qua.
Bất ngờ! Đối với những ai theo dơi vấn đề này th́ đúng là một bất ngờ: Trưa thứ Năm ngày 11/4/ 2002, Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực chính thức được thiết lập tại Trụ Sở Liên Hiệp Quốc ở New York, sau khi được 10 nước phê chuẩn trong cùng một ngày, nâng số nước "ratification" Quy Chế Rome lên con số 66, quá con số 60 quy định. Các đài truyền h́nh và các hăng tin quốc tế đều loan tin, thế giới hân hoan chào đón trong lúc Hoa Kỳ đơn độc phản đối mạnh mẽ. (U.S. vigorously opposed if U.N. creates a permanent world war crimes court. CNN 11/4/02. Nations ratify despite U.S. opposition. New York Times and San Jose Mercury New 12/4/02 by Barbara Crossette) (2)
Việc 10 nước nhất loạt phê chuẩn Quy Chế Rome trong một ngày như một thông điệp của thế giới trước cuộc chém giết không ghê tay đang diễn ra ở Trung Đông. Dù nhân danh bất cứ lư do ǵ, cuộc chém giết tập thể, bất kể thường dân vô tội phụ nữ và trẻ thơ như một thách thức công khai đối với Cộng Đồng Thế Giới và nó cũng tồi tệ hơn cả kiểu "mắt trả mắt, răng trả răng" của h́nh luật thời cổ xưa. Có thể nói việc Israel bất chấp các Nghị Quyết của Hội Đồng Bảo An và của Liên Hiệp Âu châu ngang nhiên tấn chiếm các thành phố của Palestine khiến cho Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực ra đời sớm hơn v́ nhiều người đă cho rằng với t́nh h́nh hiện nay phải đến năm 2004 Ṭa Án mới có thể h́nh thành.

2. Với chúng ta, Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực ra đời vào đúng lúc con dân nước Việt khắp nơi đang sục sôi căm phẫn lên án đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội phản bội tổ quốc, phản bội nhân dân, phản bội truyền thống Tổ Tiên anh hùng, "hiến đất, dâng biển" cho Trung Quốc để đổi lấy sự bảo hộ chính trị và mua thời gian để độc quyền "làm hại" đất nước. Sự chống đối ngày càng dâng cao và từ khi toàn bộ đất nước lọt vào ách thống trị của đảng CSVN ngày 30/4/1975 đến nay, chưa bao giờ con dân nước Việt trong và ngoài nước lại ở vào thế "hợp đồng" chống đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội mănh liệt đến như thế!
Cùng với biết bao tội ác đă gây ra cho dân tộc Việt trong suốt hơn 70 năm qua (tính từ ngày 3/2/ 1930, đảng CS Đông Dương ra đời), việc kư kết hai hiệp ước "măi quốc cầu vinh" 30/12/1999 và 25/ 12/2000 của đảng CSVN như thêm một trọng tội và đă tác dụng như giọt nước làm tràn ly uất hận. Hàng trăm bài viết chống đối, lên án đảng CSVN tràn ngập hàng ngày trên báo chí, trên mạng lưới thông tin toàn cầu; hàng trăm cuộc hội thảo, biểu t́nh bầy tỏ sự phẫn nộ, lên án đảng CSVN trước công luận đă, đang và rồi đây c̣n tiếp diễn ở bất cứ nơi đâu có sự hiện diện của con dân nước Việt.
Nhiều vị thức giả hằng quan tâm đến vận mệnh dân tộc Việt c̣n cho rằng đây là 1 cơ hội hết sức hiếm quư để người dân Việt khắp nơi, khắp chốn gạt bỏ "tị hiềm, phe phái" ngồi lại với nhau và nếu được khai thác đúng mức rất có thể dẫn đến sự xụp đổ chế độ bán nước hại dân do đảng CSVN đă áp đặt lên gần 80 triệu con dân nước Việt. Trong số các biện pháp đối phó với đảng CSVN, đặc biệt là giải pháp đối với các hiệp ước bất hợp hiến (dù là hiến pháp của chế độ CSVN hiện nay) và bất hợp pháp (so với luật pháp quốc tế hiện hành) nhiều người suy nghĩ tới việc đưa đảng CSVN ra trước một Ṭa Án Quốc Tế để nhờ phân xử.
Rất nhiều vị khác c̣n nhận xét: Sau vụ "khủng bố 9/11" tàn bạo nhắm vào thường dân vô tội Mỹ khiến cả thế giới văn minh choáng váng và quyết không dung tha, thời cơ thuận lợi đă đến để đưa "tập đoàn lănh đạo" đảng CSVN và cầm quyền Hà Nội, một tập đoàn khủng bố có hệ thống, tinh vi và tàn bạo gấp bội đối với chính đồng bào ruột thịt trong suốt nhiều thập niên, ra trước Diễn Đàn Quốc Tế và trước Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế giống như Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế dành cho Slobodan Milosovic và đồng bọn về nhiều "tội ác nghiêm trọng" xảy ra trong lúc cầm quyền ở Nam Tư thập niên 1990, hay trước các Ṭa Án Quốc Gia của các nước tôn trọng nhân quyền trên thế giới giống như trường hợp cựu Tổng Thống Chile Augusto Pinochet trước Ṭa Án Tối Cao Anh quốc. (3)

3. Thật ra, đề cập đến "tác dụng" và "phạm vi" thẩm quyền của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực lúc này có hơi sớm. Sớm v́ cần thời gian để thấy được sự vận dụng vào thực tế của Ṭa Án đối với nhiều nguyên tắc về pháp lư và đối với ngay các điều khoản căn bản và cả các định nghĩa về các loại tội phạm minh định trong Quy Chế Rome. Hơn nữa, Ṭa Án được thiết lập đúng lúc một số các nguyên tắc căn bản về pháp lư, về luật lư và các án lệ quốc tế trứ danh đang có khuynh hướng "xé bỏ tập tục" luật pháp quốc tế và được đón nhận nồng nhiệt khắp nơi. Dù vấn đề c̣n đang là đề tài tranh luận gắt gao trong giới luật gia quốc tế nhưng hiển nhiên không thể không ảnh hưởng đến Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực vừa h́nh thành.
Nói khác đi, nếu căn cứ vào một số Điều căn bản của Quy Chế Rome 17/7/1998 để đi tới một số kết luận khả dĩ có thể chấp nhận được ngay lúc này về Toà Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực th́ --một mặt khác, quả quyết lúc này về một số vấn đề thuộc về thẩm quyền tối hậu của Ṭa Án (và của Liên Hiệp Quốc) trong lúc Ṭa Án chưa thực sự bắt tay vào hoạt động, chủ yếu là việc thực thi các nguyên tắc về pháp lư, về luật lư và các điều khoản căn bản của Quy Chế Rome giữa lúc pháp luật quốc tế đang có khuynh hướng đổi thay, "xé bỏ tập tục", thiết tưởng là quá vội vàng, nhất là khi khuynh hướng đổi thay này lại được Quy Chế Rome đón nhận, từ Lời Mở Đầu (Preamble) đến các Điều căn bản.
Trên cơ sở các nhận thức ấy, chúng tôi xin tŕnh bầy bài viết trong ba phần chính sau đây:
I) Sơ lược về các Ṭa Án Quốc Tế (từ 1945 đến 2002) để có thể hiểu rơ về hệ thống Ṭa Án Quốc Tế và ghi nhận sự đấu tranh bền bỉ của Cộng Đồng Quốc Tế trong lănh vực Pháp Lư Quốc Tế;
II) Phân tích sơ quát một số Điều khoản căn bản của Quy Chế Rome để thấy rơ sự khác biệt và sự tiến bộ của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực vừa h́nh thành; và
III) Ṭa Án Quốc Tế và vấn đề Việt Nam hay các giải pháp Pháp Lư Quốc Tế có thể vận dụng đối phó với đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay.


I. CÁC T̉A ÁN QUỐC TẾ 1945-2002
Tính đến ngày 11/4/2002 h́nh thành Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực, đă có 6 Ṭa Án Quốc Tế được thiết lập, kể từ khi Liên Hiệp Quốc ra đời vào ngày 24/10/1945 sau hội nghị San Francisco gồm 51 nước. Đó là:
- Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực lập năm 1945, (c̣n gọi là Ṭa Án La Hague và đang hoạt động);
- Ṭa Án Quốc Tế "ad hoc" Nuremberg (Đức) lập cuối 1945 (và chấm dứt nhiệm vụ cuối 1946);
- Ṭa Án Quốc Tế "ad hoc" Tokyo (Nhật) cũng lập cuối 1945 (và chấm dứt nhiệm vụ cuối 1946);
- Ṭa Án Quốc Tế "ad hoc" Bosnia lập ngày 25/05/1993 (và đang xét xử vụ Milosovic ở La Hague);
- Ṭa Án Quốc Tế "ad hoc" Rwanda lập cuối 1994 (để xử các tội ác vùng Rwanda, Phi-châu); và
- Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực (lập ngày 11/4/2002 vừa qua, có hiệu lực ngày 1/7/2002).
Theo thủ tục thông thường, mỗi khi thành lập một Ṭa Án Quốc Gia, Quốc Hội phải ra một Đạo Luật để minh định thẩm quyền tài phán của Ṭa Án Quốc Gia này. Đối với quốc tế, thẩm quyền tài phán của Ṭa Án Quốc Tế thường do 1 Nghị Quyết của Hội Đồng Bảo An (hay Liên Hiệp Quốc) hoặc do Hiệp ước, Công ước hay Quy Chế giữa các quốc gia quy định. Ngoài ra, cũng cần lưu ư tới từ "ad hoc" (La-tinh=for this purpose, for this occasion) được giới luật gia quốc tế thường dùng để chỉ tính cách "không thường trực" hay "tạm thời", cho một "mục đích" hay một "trường hợp" nào đó khi thành lập một Ṭa Án Quốc Tế. Một Ṭa Án Quốc Tế "ad hoc" là một Ṭa Án Quốc Tế "tạm thời", "không thường trực", thẩm quyền tài phán "giới hạn" vào một "mục đích" hay cho một "trường hợp" nào đó và sau khi xong nhiệm vụ là Ṭa Án "giải thể". Thí dụ: Ṭa Án Quốc Tế "ad hoc" Nuremberg là một Ṭa Án Quốc Tế "tạm thời" lập cuối năm 1945, có "mục đích" xét xử "trường hợp" các chóp bu Đức quốc xă và sau khi thi hành xong nhiệm vụ "giới hạn" này Ṭa Án Quốc Tế Nuremberg đă giải thể cuối năm 1946.
Trong số 6 Ṭa Án Quốc Tế nêu trên, hiện nay chỉ c̣n 3 Ṭa Án sau đây hoạt động:
1) Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague,
2) Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế "ad hoc" Bosnia, và
3) Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực.
Sau đây, chúng tôi xin tóm lược một số chi tiết cần biết về 3 Ṭa Án Quốc Tế đang hoạt động.

1. Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague (International Court of Justice). Đây là Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực "đầu tiên" được thiết lập bởi Liên Hiệp Quốc năm 1945, sau Thế Chiến II, và là 1 trong 6 cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc. Ba cơ quan chính khác là Đại Hội Đồng (General Assembly), Hội Đồng Bảo An (Security Council), và Pḥng Tổng Thư Kư (Secretariat).
Mục tiêu chính của Ṭa Án này là phân xử các tranh chấp giữa các nước hội viên Liên Hiệp Quốc. Các nước không là hội viên Liên Hiệp Quốc có thể nhờ Ṭa Án phân xử nếu được Liên Hiệp Quốc cho phép và phải chấp thuận phán quyết của Ṭa Án. Ṭa Án có 15 vị thẩm phán, được đề cử từ các nước hội viên Liên Hiệp Quốc và phải được Đại Hội Đồng biểu quyết chấp thuận theo nguyên tắc không một nước nào được có hơn 1 thẩm phán của Ṭa Án. Phán quyết của Ṭa Án có giá trị chung thẩm.
Ở đây, chúng tôi xin tŕnh bầy 2 chi tiết quan trọng không thấy ông Tú Gàn, (tức cựu Thẩm Phán Nguyễn Cần, một trong số hiếm hoi thuộc giới hiểu biết luật pháp Việt Nam chịu bỏ công nghiên cứu và viết về Ṭa Án Quốc Tế, nhất là Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực), đề cập trong các bài viết. (4) Đây là những bằng chứng cụ thể về các nỗ lực đấu tranh bền bỉ của cộng đồng quốc tế để đi đến "một hệ thống pháp lư quốc tế, một toà án quốc tế thường trực hữu hiệu" như nhận xét của ông Kofi Annan, Tổng thư Kư Liên Hiệp Quốc. Hay như ghi nhận của Barbara Crossette trong New York Times: "More than half a century after it was first proposed in the ruins of World War II,the world's first permanent court for the prosecution of war criminals and dictators became a reality Thursday with the U.S. standing on the sidelines in strong opposition."

a) "Thủ Tục Khiếu Nại trước Hội Đồng Bảo An". Tuy một bên tranh tụng có quyền không thi hành phán quyết của Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague, nhưng phía đối phương chưa hẳn đă hoàn toàn chịu bó tay. Theo "thủ tục tố tụng" của Ṭa Án này, đối phương c̣n có quyền "khiếu nại" trước Hội Đồng Bảo An. Hội Đồng Bảo An có thể biểu quyết một "biện pháp trừng phạt" về ngoại giao, kinh tế và cả quân sự nếu cần. Biện pháp trừng phạt của Hội Đồng Bảo An nếu được thi hành đúng đắn th́ cũng không khác ǵ "tính cách cưỡng hành" như phạt tiền hay bỏ tù ở Ṭa Án Quốc Nội (v́ Toà Án Quốc Tế đâu có thể "bỏ tù" một quốc gia).
Tiếc rằng, trong thực tế, Hội Đồng Bảo An cũng bất lực do ở ngay "thủ tục biểu quyết" của cơ quan này. Theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, 15 thành viên (trước 1965 chỉ có 11) của Hội Đồng chia làm 5 thành viên "thường trực" (gồm Mỹ, Anh, Nga, Pháp và Trung Quốc) có quyền phủ quyết (veto) và 10 thành viên "không thường trực" do Đại Hội Đồng biểu quyết lựa chọn, 2 năm một lần. Tuy thủ tục biểu quyết của Hội Đồng Bảo An theo đa số (9/15 phiếu) quyết định nhưng với 1 điều kiện: "không một thành viên thường trực nào phủ quyết." Nếu 1 trong 5 nước thành viên thường trực phủ quyết th́ mọi quyết định của Hội Đồng sẽ không được thi hành. Kết quả là 5 nước này (nhiều nhất là Liên Xô trước đây) đă lạm dụng quyền phủ quyết mỗi khi thấy bất lợi cho họ (hoặc phe nhóm) bất chấp quyền lợi chung của thế giới, làm tê liệt phần lớn hoạt động của Hội Đồng Bảo An trong đó có "biện pháp trừng phạt" đối với nước không thi hành phán quyết của Ṭa Án Quốc Tế La Hague.

b) "Biện Pháp Collective Security". Nhưng cộng đồng thế giới đâu có chịu ngồi yên để 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An mặc sức thao túng? Từ quá lâu đă h́nh thành quan niệm về một nền an ninh của toàn thế giới và cộng đồng thế giới như ngầm thoả thuận trước rằng sẽ có hành động chung để chống lại bất cứ một nước hay một nhóm nước nào làm phương hại đến ḥa b́nh và an ninh thế giới, mục tiêu hàng đầu của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Quan niệm "collective security" này được dựa trên căn bản của gỉa thiết rằng thường th́ không một nước hay một nhóm nước nào dám cả gan đối đầu với sức mạnh của cả cộng đồng thế giới. Nếu điều đó xẩy ra th́ cả cộng đồng thế giới sẽ thể hiện hành động qua biện pháp collective security. (Collective security is based on the assumption that, normally, no nation or group of nations would dare to challenge the power of the world community, but, if an attack should occur, nations would honor their commitments to take collective security).
Collective security ủy cho Liên Hiệp Quốc được xử dụng các biện pháp trừng phạt kể cả giải pháp quân sự. Lúc đầu, collective security chỉ thuộc về Hội Đồng Bảo An. Từ năm 1950, Đại Hội Đồng được ủy collective security khi nghị quyết của Hội Đồng Bảo An bị ngăn chặn bởi quyền phủ quyết. (Since 1950, General Assembly also has been empowered under the Uniting for Peace Resolution to authorize collective security action if the Security Council is stymied with a veto). Năm 1950, Đại Hội Đồng đă xử dụng collective security lần đầu tiên bằng giải pháp quân sự chặn đứng cuộc xâm lặng của Bắc Hàn đối với Nam Hàn (sau khi vấn đề bị Liên Xô phủ quyết trước Hội Đồng Bảo An). Năm 1991, một lần nữa Đại Hội Đồng xử dụng collective security qua biện pháp quân sự chống lại Iraq xâm lăng Kuwait. Theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Chương VII, việc ǵn giữ "ḥa b́nh và an ninh thế giới" và "thi hành biện pháp trừng phạt kể cả biện pháp quân sự" được trao cho Hội Đồng Bảo An. (Chapter VII gives Security Council the responsibility to determine the existence of any threat to the peace, breach of the peace or act of aggression. The Council can make recommendations or take enforcement action to restore peace and security). Qua biện pháp collective security, Hội Đồng Bảo An đă bị "chia quyền" xử dụng biện pháp trừng phạt và các nước thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An bị "hoá giải" quyền phủ quyết họ vẫn dùng để thao túng Hội Đồng này.
Về điểm này, ông Tú Gàn đă nhớ lại trường hợp Việt Nam Cộng Hoà khi bị cộng sản Hà Nội xâm lăng được Hoa Kỳ đem ra trước Hội Đồng Bảo An năm 1966 và bị Liên Xô dùng quyền phủ quyết ngăn chặn và Hoa Kỳ đành bó tay. Chúng tôi không tin rằng Hoa Kỳ không biết đến biện pháp hoá giải sự ngăn chặn bằng quyền phủ quyết qua collective security trước Đại Hội Đồng như Hoa Kỳ đă áp dụng từ năm 1950 đối với Bắc Hàn. Thiết nghĩ Hoa Kỳ đă có những toan tính khác nên đă dùng diễn đàn Liên Hiệp Quốc một cách nửa vời cũng như Hoa Kỳ không thực tâm và cũng không muốn chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam như mọi người đều biết và bằng chứng ngày càng được phơi bầy dă tâm bán đứng VNCH của một số lănh đạo Mỹ lúc đó, trong đó cố vấn an ninh kiêm ngoại trưởng Henry Kissinger là nhân vật chủ chốt!

Dù cộng đồng quốc tế cố gắng sửa sai, vai tṛ tài phán quốc tế của Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague có thể nói chỉ là con số không sau hơn 50 năm hoạt động. Cộng đồng quốc tế hoàn toàn thất vọng, giới luật gia và các nhà nghiên cứu từ lâu đă nhận ra lư do căn bản của sự thất bại nằm ở ngay Điều 36 của Quy Chế thiết lập Ṭa Án này. Điều 36 "optional clause" của Quy Chế cho phép các bên tranh tụng quyền chọn lựa "không thi hành" phán quyết của Ṭa cho dù chính họ tự nguyện yêu cầu Ṭa phân xử. Đây là một nguyên tắc "quái gở" mà các luật gia quốc tế tên tuổi đều cho là vô lư, một "nguyên tắc không bao giờ có trong hệ thống pháp lư của một quốc gia". Các luật gia c̣n cho rằng Ṭa Án này không phải là một ṭa án đúng nghĩa của nó mà chỉ là một "ủy ban trọng tài" trong đó hai bên tranh chấp có quyền không thi hành quyết định của trọng tài. Tính đến năm 1984 Toà Án Quốc Tế Thường Trực La Hague phân xử vụ Nicaragua kiện Hoa Kỳ và Hoa Kỳ từ chối thi hành phán quyết của Ṭa, Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực chỉ phân xử được hơn 40 vụ tranh chấp giữa các nước hội viên Liên Hiệp Quốc (trung b́nh mỗi năm 1 vụ), nghĩa là các quốc gia không tin tưởng ǵ ở vai tṛ tài phán của Ṭa Án Quốc Tế này nữa.
Hai vụ án điển h́nh làm uy tín của Ṭa Án Quốc Tế này suy giảm đến thảm hại đều liên quan tới Hoa Kỳ.
- Vụ án 1: "U.S. v. Iran" (1980). Sau cuộc "cách mạng" xảy ra ở Iran cuối năm 1979, t́nh h́nh bang giao giữa Hoa Kỳ và Iran trở nên căng thẳng. Đầu năm 1980, Iran bắt nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ ở Iran làm con tin. Chính phủ Reagan (của Hoa Kỳ lúc đó) kiện Iran trước Ṭa Án Quốc Tế La Hague (dù Hoa Kỳ lúc đó không công nhận Ṭa Án Quốc Tế như đă nói ở trên). Ṭa Án La Hague ra phán quyết yêu cầu Iran thả các con tin Hoa Kỳ, Iran từ chối không thi hành phán quyết, Hoa Kỳ bó tay và sau đó phải t́m giải pháp bằng con đường ngoại giao thương thuyết.
- Vụ án 2: "Nicaragua v. U.S." (1984). Năm 1984, Nicaragua kiện Hoa Kỳ trước Ṭa Án Quốc Tế La Hague đ̣i bồi thường thiệt hại v́ CIA (của Hoa Kỳ) đă yểm trợ vũ khí, tiền bạc và khuyến khích các cuộc nổi loạn trong nước Nicaragua và tổ chức gài ḿn ở các hải cảng của Nicaragua. Ṭa Án Quốc Tế ra phán quyết chấp thuận yêu cầu của Nicaragua nhưng chính phủ Reagan Hoa Kỳ lúc đó cũng đă từ chối thi hành trước sự chỉ trích dữ dội của các quốc gia trên thế giới. Tuy Tổng Thống Reagan không công nhận Ṭa Án Quốc Tế La Hague nhưng vẫn ủng hộ Ṭa Án này v́ ông tin tưởng rằng "hoà b́nh và an ninh thế giới" sẽ không thể nào có được nếu không có Luật Pháp Quốc Tế và Ṭa Án Quốc Tế hữu hiệu. (U.S. has generally supported the Court in the belief that world peace and security are unlikely to be achieved without world law and an effective court system).

2. Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế ad hoc Bosnia (International criminal court ad hoc Yougoslavia). (5), (6)
Ngày 25/ 5/1993, lần đầu tiên Hội Đồng Bảo An ra Nghị Quyết thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế để truy tố nguyên thủ đương quyền một quốc gia cùng với nhiều lănh đạo cao cấp nhất trong chính quyền về các "tội ác chống nhân loại" và "tội ác chiến tranh" xảy ra trong phạm vi của một nước. Nói cụ thể hơn, ngày 25/5/1993, Hội Đồng Bảo An đă quyết định thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế "ad hoc" Bosnia và truy tố đích danh đương kim Tổng Thống LB Nam Tư Slobadan Milosovic và hầu hết cộng sự viên cao cấp nhất các ngành trong chính phủ Nam Tư lúc đó về các tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh xảy ra trong vùng Bosnia. Công tố viên Ṭa Án lúc đó là luật gia Louise Arbour và bà Arbour đă nổi tiếng thế giới khi truy tố và ra trát đ̣i bắt giam Tổng Thống đương quyền Nam Tư Milosovic và các cộng sự viên cao cấp nhất trong chính phủ Nam Tư về các tội ác nghiêm trọng xảy ra trong lúc đang cầm quyền. Danh sách tội phạm do Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Bosnia thiết lập hiện nay đă lên tới 26 người, gồm cả đương kim Tư Lệnh Quân Đội Nam Tư Dragoljub Ojdanic và Tổng Thống đương nhiệm Serbia Milan Milutinovic.
Từ ngày 15/9/2000, Công tố viên của Ṭa Án là bà Carla Del Ponte, cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Thụy Sĩ và cũng là luật sư nổi tiếng cứng rắn không bao giờ khoan nhượng đối với những kẻ gây tội ác. Hai Phó Công tố là luật gia nổi tiếng Graham Blewitt và Geoffrey Nice. Trong phiên xử khai mạc vào giữa tháng 2/2002 của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế cho vùng Bosnia, bà Ponte đă long trọng tuyên bố: "Ṭa Án này bắt đầu xét xử cựu Tổng Thống Nam Tư với những cáo buộc về tội diệt chủng và nhiều tội ác nghiêm trọng khác. Chúng ta sẽ được thấy nền Công Lư Thế Giới đang được tiến hành". Ba vị thẩm phán xử án hiện nay là các luật gia Richard May (Anh), Patrick Robinson (Jamaica), O-Gon Kwon (Đại Hàn). Bị cáo Milosovic không muốn có luật sư biện hộ và tỏ ra muốn dùng diễn đàn Ṭa Án Quốc Tế để tố ngược lại một số nguyên thủ các nước và khối NATO.
Trong 3 bản cáo trạng dầy gần 160 trang, Milosovic và đồng bọn bị cáo buộc về các tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh, trong số này có các "tội ác" giống như đă và đang triền miên diễn ra ở Việt Nam: "lạm dụng quyền hành", "tra tấn, hành hạ thường dân vô tội", "tra tấn, ám sát, bỏ tù các nhà đối lập", "cưỡng bách các dân tộc thiểu số phải rời bỏ nơi họ đang sinh sống"... Trong số 26 tội phạm bị Ṭa Án truy tố, ngoài Milosovic đă tŕnh diện Ṭa Án, c̣n có đương kim Tổng Thống Serbia Liên Bang Nam Tư Milan Milutinovic và đương kim Tư Lệnh quân đội Nam Tư Dragoljub Ojdanic. Hai người bỏ trốn đang bị truy nă trên thế giới là cựu Tổng Thống Bosnia Radovan Karadzic và tướng Ratko Mladic tư lệnh quân đội Serbia ở Bosnia. Công tố viên của Ṭa Án Ponte cho hay bà đang chờ việc cựu Tổng Thống Bosnia Karadzic sẽ được trao cho Ṭa Án Quốc Tế vào phiên ṭa sẽ được mở ra vào tháng 10 tới. Bà Ponte nói bà hy vọng thế là căn cứ vào những tin tức không thể tiết lộ lúc này.
Ngày 11/4/2002, Quốc Hội Nam Tư hỗ trợ cho Ṭa Án bằng cách thông qua một đạo luật về dẫn độ, cho phép chính phủ Nam Tư bắt giữ và dẫn độ tới Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế ở La Hague các tội phạm bị truy tố. Ngày 17/4/2002, chính quyền Nam Tư lệnh cho 23 người bị Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế truy tố phải tự nộp ḿnh cho Ṭa Án này nhằm đổi lấy quyền tại ngoại trước khi xét xử, kể cả Tư Lệnh quân đội Nam Tư Dragoljub Ojdanic và Tổng Thống Serbia đương nhiệm Milan Milutinovic. Tư Lệh quân đội Nam Tư Dragoljub Ojdanic bị cáo buộc tội cưỡng bách dân Albania ra khỏi Kosovo để biến vùng này thành vùng chỉ dành riêng cho sắc dân Serb và ông này là người đầu tiên đến tŕnh diện Ṭa Án sau khi chính quyền Nam Tư ra lệnh ngày 17/4/02. Cựu Phó Thủ Tướng Nam Tư Nikola Sainovic cũng đă bay sang Ḥa Lan tự tŕnh diện Ṭa Án cùng với Trưởng các trại giam vùng Bosnia Momcilo Gruban, ông này bị cáo buộc tội tra tấn, đánh đập, hăm hiếp tù nhân và làm chết nhiều người. Trong khi đó, chỉ vài giờ đồng hồ sau khi Quốc Hội Nam Tư thông qua đạo luật dẫn độ ngày 11/4/2002 cho phép bắt giữ và dẫn độ các người bị Ṭa Án Quốc Tế cáo buộc, cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Nam Tư dưới thời Tổng Thống Milosovic là Vlajko Stojilkovic đă tự tử để tránh sự nhục nhă.
Tóm lại, việc Hội Đồng Bảo An thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế "ad hoc" Bosnia ngày 25/5/1993 để xét xử các tội phạm chống nhân loại và tội phạm chiến tranh xảy ra trong vùng Bosnia (và hơn một năm sau, ngày 8/11/1994, thành lập Toà Án H́nh Sự Quốc Tế "ad hoc" Rwanda để xét xử các tội ác diệt chủng và tội ác chống nhân loại xảy ra ở Rwanda không có chiến tranh) là những tiền lệ quan trọng và bài học vô giá cho các nhà tranh đấu cho nhân quyền thế giới và có thể là một biện pháp khả thi cho các vấn đề Việt Nam hiện nay.

3. Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực (International Criminal Court)
a) Quy Chế Rome 17/7/1998. Trước sự bất lực của Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague, trước sự thất bại của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Tạm Thời ad hoc Rwanda, trong lúc Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế ad hoc Bosnia dậm chân tại chỗ và trước t́nh h́nh tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại cũng như tội ác chiến tranh ngày càng gia tăng, trung tuần tháng 6/1998 một Hội Nghị Quốc Tế quy tụ 3/4 các nước hội viên Liên Hiệp Quốc hội họp ở trụ sở của Food and Agriculture Organization (chi nhánh của Hội Đồng Kinh Tế và Xă Hội, 1 trong 6 cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc) cùng với ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc Kofi Annan để bàn thảo về việc thiết lập một Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực có thẩm quyền xét xử đối với tất cả các tội ác chống nhân loại và các tội ác chiến tranh trên toàn thế giới. Sau 5 tuần lễ thảo luận, ngày 17/7/1998, đại diện 120 nước tham gia Hội Nghị đă kư kết Quy Chế Rome để thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực đầu tiên của nhân loại.
Tuy được 120 quốc gia kư kết (signature) nhưng Quy Chế Rome chỉ có hiệu lực khi được 60 nước phê chuẩn (ratification). Tài liệu của tổ chức Công Lư không Biên Giới đă ghi nhận như sau:
* Trong số 120 nước kư kết Quy Chế Rome ủng hộ việc thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực có: Nga (lúc đầu chống, sau ủng hộ), Anh, Pháp, Đức (Đức được ghi nhận là nước ủng hộ mạnh mẽ nhất), Liên Hiệp Âu Châu (gồm 15 nước) và hầu hết các nước Nam Mỹ đều ủng hộ mạnh mẽ.
* 7 nước chống gồm Mỹ, Trung Cộng, Ấn, Pakistan, Indonesia, Iraq và Việt Nam. Cuối năm 2000 Mỹ thay đổi lập trường, c̣n lại 6 nước chống và hầu hết đều có vấn đề. Hoa Kỳ bỏ phiếu chống v́ chính quyền Clinton lúc đó e ngại rằng các quân nhân Mỹ trong lực lượng ǵn giữ hoà b́nh có mặt khắp thế giới có thể sẽ bị đưa ra Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực xét xử về các "trách nhiệm h́nh sự". Trung Cộng e ngại sẽ bị kiện v́ vấn đề Tây Tạng. Ấn Độ chống sau khi không thành công việc đ̣i ghi vào Quy Chế Rome như một tội ác nghiêm trọng đối với các nước có vũ khí nguyên tử.
* 21 nước không có ư kiến và 12 nước không tham gia bỏ phiếu. Số nước tham gia thảo luận Quy Chế Rome lên tới 3/4 con số 188 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra, trên 800 tổ chức phi chính phủ trên thế giới đă tham gia vào việc vận động triệu tập Hội Nghị và cả việc vận động phê chuẩn Quy Chế Rome sau này. (? Rome, après cinq semaines de negociations, une large majorité de 120 pays a voté pour, 7 on voté contre, et 21 se sont abstenus; 12 pays n'ont pas pris part au vote).

b) Ṭa Án Ra Đời Ngày 11/4/2002. Thật ra, các nhà lănh đạo thế giới, các luật gia và các nhà đấu tranh cho nhân quyền quốc tế từ lâu đă thấy việc h́nh thành một Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực là vô cùng cần thiết cho một nền Pháp Lư Thế Giới và cũng không thể thiếu trong việc duy tŕ an ninh và hoà b́nh quốc tế, mục tiêu hàng đầu của Liên Hiệp Quốc. Tổng Thống Hoa Kỳ Reagan ở thập niên 1980, tuy không chấp nhận Ṭa Án Quốc Tế La Hague ở những vấn đề thuộc về phạm vi quyền hạn của Ṭa Án Quốc Gia Hoa Kỳ, vẫn ủng hộ Ṭa Án Quốc Tế La Hague v́ ông quan niệm nền ḥa b́nh và an ninh thế giới sẽ không thể có được nếu không có luật pháp quốc tế và một ṭa án hữu hiệu. Vào lúc chính quyền Hoa Kỳ Clinton bỏ phiếu chống Quy Chế Rome ngày 17/7/1998, cựu Tổng Thống Jimmy Carter vẫn cho rằng "ṭa án h́nh sự quốc tế thường trực sẽ bảo đảm được phẩm chất, sự hữu hiệu, nhanh chóng, công bằng và không tiên kiến khi xét xử và trừng phạt".
Phía nữ, bà Rhonda Copelon, GS Khoa Trưởng Phân Khoa Nhân Quyền Phụ Nữ Quốc Tế Đại Học New York, nhận xét: "Phê Chuẩn Quy Chế Rome để thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực sẽ khuyến khích các quốc gia cải thiện các luật lệ về phụ nữ của chính họ". Ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc Kofi Annan vào ngày kết thúc Hội Nghị Rome 17/7/1998 tuyên bố: "Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế thường trực đang h́nh thành nhằm cung cấp những ǵ từ quá lâu được xem là mắt xích bị thiếu trong hệ thống pháp lư quốc tế, một ṭa án thường trực để xét xử những tội ác liên quan sâu đậm đối với nhân loại và những tội ác chiến tranh". Ngoài ra, vẫn theo ông Annan, "Giấc mơ ấp ủ từ lâu về một Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế (thường trực) nay đă được thực hiện." (The long-held dream of the International Criminal Court will now be realized."

c) Hoa Kỳ Chống Đối
Theo Hiến Pháp Hoa Kỳ, các hiệp ước quan trọng do Tổng Thống (hoặc vị đại diện) kư kết với nước ngoài phải được Thượng Viện biểu quyết chấp thuận (với tỷ lệ 2/3 phiếu bầu) mới có giá trị. Thượng Viện Hoa Kỳ thời Tổng Thống Woodrow Wilson từng không phê chuẩn Hiệp ước Quốc Tế Versailles năm 1919 dẫn đến việc Hoa Kỳ không tham gia Hội Quốc Liên (League of Nations). Sau đó, tổ chức này được thay thế bằng Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ (thời Tổng Thống Harry S. Truman) là 1 trong số 51 nước đầu tiên phê chuẩn Hiến Chương và thiết lập Liên Hiệp Quốc ngày 24/10/1945 nhưng Thượng Viện Mỹ vẫn không phê chuẩn Quy Chế thiết lập Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague, 1 trong số 6 cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc. Dù thế, Hoa Kỳ vẫn ủng hộ Ṭa Án này và dưới thời Tổng Thống Reagan, năm 1980 Hoa Kỳ kiện Iran ra trước Toà Án Quốc Tế La Hague về việc Iran bắt cóc con tin Mỹ. Ở Hội Nghị Rome 17/7/1998, chính quyền Clinton chống Quy Chế Rome nhưng sau đó nghe theo khuyến cáo của cựu Tổng Thống Carter đă thay đổi lập trường và kư ủng hộ Quy Chế Rome vào cuối nhiệm kỳ.
Tuy nhiên, giữa lúc các nhà hoạt động cùng với hơn 800 tổ chức phi chính phủ khắp thế giới đang hân hoan vận động để Quy Chế Rome sớm được phê chuẩn th́ về phía Hoa Kỳ, nước đứng đầu thế giới về "thượng tôn luật pháp", hành pháp Bush nói "nó (Quy Chế Rome) sẽ không bao giờ được đưa ra trước Thượng Viện để phê chuẩn" (Bush officials say that it will never be sent to the Senate for ratification), và về phía lập pháp th́ những người "bảo thủ" bồn chồn, lo lắng và t́m mọi cách để ngăn chặn việc thiết lập Toà Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực với lư do "bảo vệ quân nhân Mỹ ǵn giữ hoà b́nh" có mặt khắp thế giới. Trong năm 2001, Hạ Viện Hoa Kỳ đă thông qua dự luật "Luật Bảo Vệ Thành Viên Quân Luật Mỹ" (American Service Members' Protection Act) do Dân Biểu Tom DeLay (Cộng Hoà-Texas) đệ nạp nhằm ngăn chặn việc Hoa Kỳ tham dự vào hoạt động của Toà Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực sắp h́nh thành, cản trở các nước phê chuẩn Quy Chế Rome và cũng ủy quyền cho hành pháp được xử dụng các biện pháp cần thiết để can thiệp cho các công dân Mỹ hay đồng minh bị giam giữ bởi Toà Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực.
Ngày 11/4/2002, ngay khi được tin Ṭa Án h́nh thành, cùng với việc hành pháp Bush vừa phản đối vừa dọa sẽ rút chữ kư của Hoa Kỳ ra khỏi danh sách 121 nước đă kư Quy Chế Rome, Dân Biểu Cộng Hoà Henry Hyde, Chủ Tịch Ủy Ban Quan Hệ Quốc Tế Hạ Viện đă gửi thư cho ngoại trưởng Mỹ Colin Powell để ông này yêu cầu Hội Đồng Bảo An dành cho các quân nhân Mỹ quyền miễn truy tố tuyệt đối bởi Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực trong lúc thi hành sứ mạng quốc tế ǵn giữ hoà b́nh ở Bosnia, bắt đầu từ tháng 6/2002.
Tuy nhiên nghiên cứu nội dung của Quy Chế Rome, đặc biệt là các Điều minh định thẩm quyền tài phán của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực, người ta sẽ nhận ra ngay lư do "bênh vực các quân nhân Mỹ" Hoa Kỳ vin vào để chống đối hoàn toàn không có cơ sở. Sự thật và như một "nguyên tắc căn bản", Quy Chế Rome minh định rằng Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực sẽ "không nhận xét xử trường hợp Ṭa Án Quốc Gia liên hệ đang điều tra hoặc truy tố, trừ khi Ṭa Án Quốc Gia liên hệ không chịu điều tra hay truy tố các tội ác hoặc truy tố trừng phạt lấy lệ". (Article 1: "It shall be com- plementary to national criminal jurisdictions." Article 17: "The Court shall determine that a case is inadmissible where...The case is being investigated or prosecuted by a State which has jurisdiction over it, unless the State is unwilling or unable genuinely to carry out the investigation or prosecution;"
Bác bỏ lư do bênh vực các quân nhân Mỹ do Hoa Kỳ viện dẫn, luật sư Bruce Broomhall, Giám Đốc Chương Tŕnh Luật Pháp Quốc Tế thuộc Ủy Ban Các Luật Sư Đấu Tranh Cho Nhân Quyền, cho rằng: "Sẽ không có bất cứ viễn cảnh nào như các lư do viện dẫn sẽ xảy ra cả". Theo Bruce Broomhall th́ "công dân Mỹ được bảo vệ v́ thẩm quyền tài phán của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực được phát động như một h́nh thức "bổ xung" cho thẩm quyền tài phán "nguyên thủy" của một quốc gia như quốc gia Hoa Kỳ vốn có khả năng và sẵn sàng giải quyết các vấn đề do Quy Chế Rome đặt ra". Luật Sư Đoàn của thành phố New York, một tổ chức có hàng ngàn luật sư trong đó nhiều vị có tên tuổi lẫy lừng, là một trong nhiều tổ chức đă viết thư cho Tổng Thống Bush ngay sau khi Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực được thành lập để thúc giục Tổng Thống Bush nên xét lại thái độ đối với Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế. Bà Vahida Nainar, Chủ Tịch Đại Hội Phụ Nữ Thế Giới Đấu Tranh Cho Một Nền Công Lư Theo Giới Tính, nhận định việc Mỹ ngăn cản việc thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực chẳng khác nào "Hoa Kỳ đang cản trở con đường cung ứng luật pháp cho giới phụ nữ trên khắp thế giới". Theo Barbara Crossette, bỉnh bút chuyên về luật pháp của tờ New York Times, th́ "Sự h́nh thành Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực được hầu hết các quốc gia dân chủ, các tổ chức luật sư và các tổ chức nhân quyền Hoa Kỳ đón nhận". (The establishment of the new court has been broadly welcomed by most democratic nations, American Lawyers Associations and Human Rights groups.)

II. MỘT SỐ ĐIỀU KHOẢN CĂN BẢN

Quy Chế Rome 17/7/1998 thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực gồm 128 Điều (Article) và được chia làm 13 Phần (Part). Sau đây chúng tôi xin phân tích "sơ khởi" một số Điều căn bản liên hệ đến đề tài bài viết. Chúng tôi đối chiếu Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực 11/4/2002 (chúng tôi gọi đơn giản là Ṭa Án Quốc Tế "mới") và Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực lập từ năm 1945 (tức Ṭa Án Quốc Tế "cũ") để thấy rơ sự tiến triển, khác biệt và có lẽ cũng dễ hiểu hơn.

1. Trách Nhiệm Cá Nhân
- Điều 1, Điều 25 và Lời Mở Đầu (Preamble) minh định 3 chi tiết quan trọng: a) Ṭa Án Quốc Tế "mới" là Ṭa Án "Thường Trực", b) có thẩm quyền xét xử đối với các "cá nhân" vi phạm những "tội ác nghiêm trọng" (được) quốc tế quan tâm, minh định trong Quy Chế Rome, và c) Ṭa Án Quốc Tế "mới" c̣n có thẩm quyền xét xử "bổ xung" đối với các Ṭa Án Quốc Gia". (International Criminal Court shall be complementary to national criminal jurisdictions). Nói cụ thể hơn:
a) Nếu "quốc gia" là chủ thể đi kiện hay bị kiện trước Toà Án Quốc Tế "cũ" th́ "cá nhân" là người đi kiện hay bị kiện về trách nhiệm h́nh sự trước Ṭa Án Quốc Tế "mới".
b) Nếu "chủ thể" đi kiện trước Toà Án Quốc Tế "cũ' phải là nước hội viên Liên Hiệp Quốc (không là hội viên th́ phải được Liên Hiệp Quốc đồng ư) th́ nạn nhân các vi phạm "tội ác nghiêm trọng" là các "cá nhân" có thể đứng đơn kiện các "cá nhân" phạm tội trước Ṭa Án Quốc Tế "mới".
c) Đặc biệt là Ṭa Án Quốc Tế "mới" có thẩm quyền tài phán "bổ xung" đối với Ṭa Án Quốc Gia, nghĩa là: Ṭa Án Quốc Tế "mới" sẽ thụ lư nếu Ṭa Án Quốc Gia liên hệ không đem các "cá nhân" tội phạm về các "tội ác nghiêm trọng" ra xét xử hoặc xét xử nhưng không đúng mức.
d) Chi tiết căn bản quan trọng khác nữa thuộc về trách nhiệm h́nh sự (do các Điều khoản khác của Quy Chế Rome minh định) là phán quyết của Ṭa Án Quốc Tế "mới" có "tính cách cưỡng hành" đối với các "cá nhân" bị xét xử có tội (không thể "không thi hành" như đối với Ṭa Án Quốc Tế "cũ").
e) Ngoài các "nguyên tắc thông thường" trong mỗi Đạo luật về h́nh sự như "nguyên tắc mỗi tội chỉ xử một lần" (Article 20: Ne bis in idem), "nguyên tắc không có tội nếu không có luật" (Article 22: Nulla poen sine lege), "nguyên tắc luật h́nh bất khả hồi tố" (Article 24: Non-retroactivity ratione personae)... một nguyên tắc khá quan trọng khác thuộc về h́nh luật được Quy Chế Rome ghi nhận ở Điều 29 là "nguyên tắc bất khả thời tiêu".

Theo nguyên tắc "bất khả thời tiêu" của Điều 29, nạn nhân không kiện được lúc này th́ sau này kiện lúc nào cũng được, không bị bất cứ "luật hạn chế thời hiệu" nào làm mất đi tố quyền. (Article 29 (Non-applicability of statute of limitations): "The jurisdiction of the Court shall not be subject to any statute of limitations").
Nhân đây, chúng tôi xin được nhắc đến "cố" LS Phạm Thanh Dân (có văn pḥng Luật Sư ở Paris), người đă soạn nhiều tài liệu mà ông gọi là "Tuyên Cáo về các tội ác chống nhân loại bất khả thời tiêu của tập đoàn cầm quyền cộng sản Hà Nội đối với dân tộc Việt Nam". Các tuyên cáo của ông đều do GS Lương Thị Nga, Chủ tịch Hội Phụ Nữ Việt Nam Hải Ngoại (Pháp), tŕnh bầy nhiều lần trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong các khóa họp về nhân quyền ở Geneva trong năm 1994 và 1995. Nghiên cứu các tài liệu của LS Phạm Thanh Dân, chúng tôi thấy hầu hết các tội ác của đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội đối với dân tộc Việt Nam liệt kê trong Tuyên Cáo của ông nay đều được ghi lại trong Điều 6 và 7 Quy Chế Rome về các "tội ác diệt chủng" và "tội ác chống nhân loại" và nạn nhân của các vi phạm có thể kiện trước Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực nếu các quốc gia liên hệ không truy tố hay trừng phạt "không thoả đáng". (7)
Ngoài ra, cũng cần liên hệ đến "case" cựu ngoại trưởng và cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ Henry Kissinger được ông Tú Gàn nhắc đến trong hai bài viết về Ṭa Án Quốc Tế gần đây. Theo ông Tú Gàn, để trả lời các cáo buộc về những tội ác xảy ra trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, ông Kissinger đă lư luận "Vấn đề là 30 năm sau khi biến cố xảy ra, liệu các Ṭa Án có những phương tiện thích hợp để căn cứ vào đó định đoạt hay không?" Chúng tôi không "lư" tới việc cáo buộc này có đúng hay không? Chúng tôi chỉ lưu ư tới khía cạnh ông cựu ngoại trưởng Mỹ không biết đến 1 nguyên tắc pháp lư quan trọng - nguyên tắc bất khả thời tiêu - hay ông không thèm biết đến luật pháp v́ ông bằng cấp cùng ḿnh và từng nắm giữ các chức vụ cao cấp nhất của một nước đứng đầu thế giới về thượng tôn luật pháp? Và chúng tôi liên tưởng tới việc 30 năm xưa ông Kissinger nay Paris mai Hà Nội và không ngần ngại "cưỡng ép" đồng minh của ḿnh kư vào hiệp định Paris 27/1/1973, một hiệp ước "bán đứng" VNCH cho địch. Tội của ông, bản cáo trạng truy tố Milosovic gọi là tội "lạm dụng quyền lực" và bị Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực xét xử như một "tội ác nghiêm trọng", "tội ác chống nhân loại". Theo luật gia Pháp danh tiếng thế giới Samuel Pisar, "sự đ̣i hỏi phổ quát ngày nay là những kẻ phạm tội ác chống nhân loại phải bị truy lùng tới tận cùng trái đất, bất cứ ở đâu và bất kỳ lúc nào, có thể t́m thấy họ để đưa ra xét xử trước công lư". (an almost universal clamor today that those who commit crimes against hunanity must be persued to the ends of the world, whenever and wherever they can be found, and brought to justice). Dẫu cho 30 hay 40 năm sau hiệp định Paris 27/1/1973 do ông dàn dựng để "bức tử" VNCH, nếu bị truy tố, ông vẫn có thể bị kết tội theo "nguyên tắc bất khả thời tiêu" của luật h́nh được như thường. C̣n việc ông cho rằng "liệu ṭa án có những phương tiện thích hợp để căn cứ vào đó định đoạt hay không" th́ cựu Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter đă có nhận xét: "Toà Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực sẽ bảo đảm phẩm chất, sự hữu hiệu, nhanh chóng và sự công bằng, không tiên kiến trong cuộc điều tra và trừng phạt". Chẳng lẽ ông Kissinger bài bác luôn cả Tổng Thống Mỹ?
Vẫn trường hợp Kissinger (và nhóm Khmer Đỏ), ông Tú Gàn viết: "Không có Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế nào hiện nay có thẩm quyền truy tố và xét xử cả". Sự thật ngược lại. Bọn Khmer Đỏ đă được trao vào "tầm tay" Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực và Kissinger cũng có rất nhiều khả năng sẽ gặp khó khăn với Ṭa Án này.
a) Về trường hợp Khmer Đỏ, có lẽ ông Tú Gàn đă "quên" việc Cambodia là 1 trong số 10 nước nhất loạt phê chuẩn Quy Chế Rome ngày 11/4/2002, tức Cambodia ở trong số 66 nước chính thức công nhận thẩm quyền của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực vừa h́nh thành. Cambodia có vấn đề Khmer Đỏ, dung túng th́ không được v́ Liên Hiệp Quốc đă ra Nghị Quyết về việc này mà xét xử tại Ṭa Án Quốc Gia th́ cũng không dễ dàng ǵ đối với Hun Sen, người lănh đạo có thực quyền ở đất nước này hiện nay, vốn từng là đồng chí của nhóm tội phạm Khmer Đỏ. Nay Cambodia sốt sắng phê chuẩn Quy Chế Rome có khác nào muốn nhờ Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực xét xử dùm bọn tội phạm này. Hoặc giả Ṭa Án Quốc Gia Combodia nhất định "đông lạnh" vụ này hay nay mai t́nh thế buộc phải xét xử nhưng chỉ trừng phạt lấy lệ th́ Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực cũng vẫn có quyền "phát động tố quyền" theo Điều 13 hoặc có quyền xét xử "bổ xung" theo Điều 1 của Quy Chế Rome (chứ tại sao lại không có thẩm quyền truy tố hay xét xử).
b) Trong số các "cáo buộc" Kissinger do ông Tú Gàn liệt kê (theo Christopher Hitchens, tác giả tài liệu "The Trail of Henry Kissinger") có các tội ác (không bao giờ được "miễn trừ trừng phạt" dù người đó là nguyên thủ một nước hay nhà ngoại giao cao cấp nhất như Kissinger) sau đây:
- Mua chuộc và đặt kế hoạch ám sát các viên chức chính quyền hợp hiến tại Chile;
- Dính líu cá nhân đến kế hoạch cố sát người lănh đạo quốc gia Cyprus; và
- Đồng lơa trong việc tàn sát tập thể và trong các việc ám sát ở Bangladesh.
Đây là các "tội ác nghiêm trọng" bị trừng trị bởi Điều 5 của Quy Chế Rome. Cả 3 nước liên hệ Chile, Cyprus, và Bangladesh đều đă kư kết Quy Chế Rome tuy hiện nay chưa phê chuẩn. Nhưng cả 3 vụ ông Kissinger "dính líu" trên đây đâu đă yên. Chỉ cần 1 trong 3 nước trên và trong t́nh hiện nay th́ nước đó rất có thể là Bangladesh (và cả Chile) phê chuẩn Quy Chế Rome hay nhờ Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực phân xử các vụ án đă làm bao người chết oan, khi đó ông Kissinger khó tránh khỏi "trát nă bắt quốc tế" tương tự trát nă bắt cựu Tổng Thống Pinochet của thẩm phán Tây Ban Nha Baltasar Gapzon và Cảnh Sát Anh thi hành ngày 16/10/1998, nhưng "mạnh" hơn nhiều v́ đây là trát nă bắt của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế và theo luật gia nổi tiếng thế giới Pisar, "những kẻ phạm tội ác chống nhân loại phải bị truy lùng tới tận cùng trái đất, bất cứ ở đâu và bất kỳ lúc nào có thể t́m ra chúng để đem ra xét xử trước công lư". Hoa Kỳ có thể không hợp tác nhưng không lẽ ông Kissinger cứ "trốn" trong nước. (Chắc ǵ Hoa Kỳ mai đây sẽ không hợp tác với Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế? Nhớ lại cựu Tổng Thống Pinochet là người có công đă ngăn chặn làn sóng đỏ tràn vào Nam Mỹ và cũng là người hợp tác chặt chẽ và bạn thân với nhiều Tổng Thống Hoa Kỳ. Vậy mà khi Pinochet gặp khó khăn với Ṭa Án Anh th́ nhật báo Washinton Post ngày 23/3/2000 "hâm lại" vụ ám sát cựu Đại Sứ Chile Orlando Letelier, chính khách đối lập Pinochet, ngày 21/9/1976 tại Hoa Thịnh Đốn. Vụ án này đă ngủ yên 24 năm, nay lại được chính quyền Mỹ khơi dậy nhằm cáo buộc Pinochet đă ra lệnh cho mật vụ gài bom trong xe du lịch giết Letelier và gây thương tích nặng cho Ponni Moffitt, công dân Mỹ, bạn và ngồi cùng xe với Litelier).

2. Tội Ác Nghiêm Trọng
- Điều 5 minh định tổng quát các "tội ác nghiêm trọng" được quốc tế quan tâm và trừng trị, gồm 4 loại: a) Tội Diệt Chủng (Crimes of Genocide); b) Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity); c) Tội Ác Chiến Tranh (War Crimes); và d) Tội Xâm Lược (Crime of Aggression).
- Các Điều 6, 7 và 8 của Quy Chế giải thích thế nào là các "tội ác nghiêm trọng" và liệt kê các "tội ác nghiêm trọng" có thể bị trừng phạt dài trên 6 trang giấy. Chúng tôi trích dẫn sau đây một số các "tội ác nghiêm trọng" thuộc về "tội ác diệt chủng" (Điều 6) và "tội ác chống nhân loại" (Điều 7) và các "cá nhân" nạn nhân có thể kiện trước Ṭa Án Quốc Tế "mới".

a) "Genocide" means any of the following acts committed with intent to destroy, in whole or in part, a national, ethnical, racial or religious group, such as:
- Causing serious bodily or mental harm to members of the group;
- eliberately inflicting on the group conditions of life calculated to bring about its physical
destruction in whole or in part;...(Article 6: Genocide)

b) "Crimes against Humanity" means any of the following acts when committed as part of a wide
- spread or systematic attack directed against any civilian population, with knowledge of the attack:
- "Extermination" includes the intentional infliction of conditions of life, inter alia (means among other thing) the deprivation of access to food and medicine, calculated to bring about the
destruction of part of a population;
- "Deportation or forcible transfer of population" means forced dis placement of the persons concerned by expulsion or other coercive acts from the area in which they are lawfully present, without grounds permitted under international law;
- "Torture" means the intentional infliction of severe pain or suffering, whether physical or mental, upon a person in the custody or under the control of the accused; except that torture shall not include pain or suffering arising only from, inherent in or incidental to, lawful sanctions;
- "Persecution" means the intentional and severe deprivation of fundamental rights contrary to internationl law by reason of the identity of the group or collectivity;...
(Article 7: Crimes against Humanity)
Chỉ cần đọc qua một số "tội ác" được coi là "nghiêm trọng" thuộc thẩm quyền xét xử và trừng trị của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực trích dẫn trên đây, chúng ta hoàn toàn không ngạc nhiên chút nào về việc nhà cầm quyền Hà Nội đă bỏ phiếu chống Quy Chế Rome ngày 17/7/1998. Theo LS Phạm Thanh Dân, "tất cả các tội ác nghiêm trọng của tập đoàn cầm quyền Hà Nội đối với dân tộc Việt Nam suốt bao năm qua là những tội ác chống nhân loại bất khả thời tiêu". Ngay các "tội ác" do do đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội đang chủ trương và có hệ thống đối với các tôn giáo, các nhóm sắc tộc Tây Nguyên và với hàng ngàn đồng bào bị trục xuất hay cưỡng bách ra khỏi các vùng đất đang sinh sống ở các vùng biên giới hiến đất cho Trung Cộng đều là các "tội ác chống nhân loại" và bị trừng trị bởi Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực vừa thiết lập.

3. Thẩm Quyền Tài Phán
- Điều 13 minh định Ṭa Án Quốc Tế "mới" có thể thực thi thẩm quyền tài phán liên quan đến các tội ác nghiêm trọng quy định ở Điều 5 theo 3 phương cách:
a) Do quốc gia hội viên "khởi tố" (to the Prosecutor by a State Party);
b) Do Hội Đồng Bảo An "yêu cầu" (by the Security Council under UN's Chapter VII); hay
c) Do Công Tố Viên của Ṭa Án tự tiến hành điều tra. (Prosecutor has initiated an investigation).
Như thế có thể nói rằng nếu Ṭa Án Quốc Tế "cũ" thụ động hay ngồi chờ các nước nhờ phân xử th́ Toà Án Quốc Tế "mới" chủ động hơn và có thể "tự ḿnh" phát động tố quyền. Điều 13 (phối hợp với một số Điều khoản khác) cũng có nghiă là:
a) Các quốc gia hội viên Quy Chế Rome có thể đưa các cá nhân phạm các tội ác nghiêm trọng ra trước Ṭa Án Quốc Tế "mới" nhờ phân xử hoặc các quốc gia liên hệ này bao che không chịu khởi tố tội ác nghiêm trọng được minh định trong Quy Chế Rome hoặc chỉ xử "lấy lệ", Ṭa Án Quốc Tế "mới" có quyền đem ra xét xử hoặc xét xử "bổ xung" việc xét xử của các Ṭa Án Quốc Gia.
b) Hội Đồng Bảo An, căn cứ vào Chương VII của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc có thể đưa "vấn đề" ra trước Ṭa Án Quốc Tế "mới" để xét xử. "Vấn đề" thuộc "thẩm quyền" của Hội Đồng Bảo An là những vấn đề ǵ? Chương VII trao cho Hội Đồng Bảo An trách vụ duy tŕ nền "hoà b́nh và an ninh" thế giới và cũng trao cho Hội Đồng Bảo An quyền "thi hành biện pháp trừng phạt", kể cả biện pháp quân sự, đối với các hành động làm phương hại đến "ḥa b́nh và an ninh" thế giới.
c) Công Tố Viên của Ṭa Án Quốc Tế "mới" có thể tự tiến hành điều tra và đưa ra Ṭa Án xét xử và trừng phạt các tội ác nghiêm trọng do nạn nhân khởi tố.

4. Thủ Tục Chống Án
- Điều 81 minh định "quyền chống án". (Article 81 (Appeal): "A decision...may be appealed).
- Điều 83 minh định thẩm quyền của "Pḥng Chống Án". (Article 83 (Proceeding on Appeal): "The Appeals Chamber shall have all the powers of the Trial Chamber").
- Điều 2 (Phần 1 "Establishment of the Court" của Quy Chế Rome) minh định sự quan hệ giữa Ṭa Án Quốc Tế "mới" và Liên Hiệp Quốc sẽ được thỏa hiệp giữa đại hội đồng các nước hội viên Ṭa Án với Liên Hiệp Quốc.
Theo Điều 13 (vừa phân tích ở trên) th́ Hội Đồng Bảo An có thể yêu cầu Ṭa Án Quốc Tế "mới" xét xử các vấn đề có liên quan tới việc duy tŕ "ḥa b́nh và an ninh" là phạm vi trách nhiệm của Hội Đồng Bảo An do Chương VII minh định. Như thế, Ṭa Án Quốc Tế "mới" ngang hàng và độc lập với Hội Đồng Bảo An, không c̣n quá lệ thuộc vào Hội Đồng này như Ṭa Án Quốc Tế "cũ" như đă phân tích ở phần I.

5. Thời Gian Hiệu Lực
- Điều 126 minh định Quy Chế Rome 17/7/1998 sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tháng, 60 ngày sau khi văn thư phê chuẩn của nước thứ 60 được nạp cho ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc. (Article 126: "This Statute shall enter into force on the first day of the month after the 60th day following the date of the deposit of the 60th instrument of ratification, acceptance, approval or accession with the Secretary General of the UN").
Ngày 11/4/2002, như đă tŕnh bầy ở trên, 10 nước nhất loạt nạp văn kiện phê chuẩn Quy Chế Rome cho ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, nâng con số lên 66 nước phê chuẩn. Theo Điều 126 nêu trên th́ Quy Chế Rome sẽ có hiệu lực vào ngày 01/07/2002 hay Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực có hiệu lực kể từ ngày này.

6. Các Điều Hạn Chế
- Điều 4 qui định Ṭa Án Quốc Tế "mới" có quyền thi hành trách nhiệm được trao phó trên lănh thổ các nước hội viên và trên lănh thổ nước không phải là hội viên với "sự thỏa thuận đặc biệt". (Article 4: "The Court may exercise its functions and powers...on the territory of any States Party and, by special agreegrement, on the territory of any other State.")
- Điều 12 phân biệt hai loại quốc gia Ṭa Án có quyền thi hành thẩm quyền tài phán: a) quốc gia hội viên chấp thuận thẩm quyền của Ṭa Án đối với tội ác được xét xử và b) quốc gia không phải là hội viên tuyên bố "ủy quyền" cho Ṭa Án xét xử và chấp thuận phán quyết của Ṭa Án đối với tội ác bị xét xử. (Article 12: "A State which becomes a Party to this Statute thereby accepts the jurisdiction of the Court with respec to the crimes... If the State which is not a Party to this Statute...that State may, by declaration lodged with the Registrar, accept the exercise of jurisdiction by the Court with respect to the crime in question."
- Điều 127 cho phép quốc gia hội viên được rút khỏi Quy Chế bằng văn thư thông báo cho ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc. (Article 127: "A State Party may, by written notification addressed to the Secretary General of the UN, withdraw from this Statute.")
Tóm lại, căn cứ vào Điều 4, 12 và 127 phân tích sơ khởi trên đây (cùng các Điều khác nữa) th́ thẩm quyền tài phán của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực thiết lập ngày 11/4/2002 vẫn bị "giới hạn" đối với các quốc gia hội viên của Quy Chế Rome hoặc không là hội viên th́ quốc gia này "phải" ủy quyền cho Ṭa Án này xét xử và công nhận phán quyết của Ṭa Án.
Việt Nam hiện nay là 1 trong số 6 nước không kư Quy Chế Rome ngày 17/7/1998. Trong suốt bao năm qua Việt Nam vẫn luôn luôn là một trong số các nước đứng đầu danh sách "vi phạm nhân quyền" trên thế giới. Do đó, Hà Nội cũng sẽ không bao giờ ủy cho Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực xét xử các tội ác chống nhân loại xảy ra trong lănh thổ Việt Nam và công nhận phán quyết của Ṭa Án này. Nhưng liệu nhóm lănh đạo đảng CSVN và cầm quyền Hà Nội hiện nay có thể "né tránh" được Công Lư Thế Giới càng ngày càng tiến tới một nền luật pháp chung của nhân loại được không? Đó là đề tài sẽ được triển khai trong phần III dưới đây.

III. CÔNG LƯ THẾ GIỚI VÀ VẤN ĐỀ VIỆT NAM

Trong phần mở đầu, chúng tôi đă minh xác Ṭa Án Quốc Tế là một vấn đề khá phức tạp và cho đến nay rất ít người thuộc giới hiểu biết luật pháp Việt Nam chịu bỏ công nghiên cứu, viết bài về Ṭa Án Quốc Tế, đặc biệt là Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực vừa h́nh thành. Nhà báo Tú Gàn (tức cựu thẩm phán Nguyễn Cần) đưa ra nhận xét trường Luật Sài G̣n xưa chỉ dạy phớt qua về Ṭa Án Quốc Tế trong lúc trường Luật Mỹ hiện nay th́ hầu như không đả động ǵ đến "vấn đề" này (như trong 13 môn học để thi lấy bằng hành nghề Luật Sư ở Tiểu Bang California chẳng hạn) hàm ư "giải thích" v́ sao các Luật Sư gốc Việt tốt nghiệp khá đông tại Mỹ lại rất ít khi viết về đề tài này. Khi xảy ra vụ hiến đất dâng biển cho Trung Quốc của đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội, một số luật gia có "thẩm quyền" về luật pháp quốc tế khi lên tiếng góp ư vào vấn đề th́ thường căn cứ trên nguyên tắc quốc gia kiện quốc gia của Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague hoặc dựa vào một số nguyên tắc pháp lư, tập tục quốc tế vốn đang bị rung chuyển tận nền móng để đi đến kết luận rằng: "Không thể đưa nhóm lănh đạo đảng CSVN và cầm quyền Hà Nội đă kư kết hai hiệp ước vô cùng di hại cho đất nước và dân tộc Việt Nam ra trước Ṭa Án Quốc Tế". Trái lại, căn cứ vào khuynh hướng của Luật Pháp Quốc Tế hiện nay, chúng tôi "sơ phác" dưới đây ba trường hợp có thể vận dụng Công Lư Quốc Tế cho vấn đề Việt Nam tùy theo khả năng vận dụng, kế hoạch làm việc,... và nhiều yếu tố (?) khác.

* Trường Hợp 1: Một Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế "ad hoc" cho Việt Nam

1. Tiền Lệ. Ngày 25/5/1993, lần đầu tiên và qua Nghị Quyết 827, Hội Đồng Bảo An thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế "ad hoc" Bosnia để đối phó với các tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh xảy ra trong lănh thổ Cộng Ḥa Liên Bang Nam Tư. Ngày 8/11/1994 và qua Nghị Quyết 955, Hội Đồng Bảo An một lần nữa thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế ad hoc Rwanda để truy tố và xét xử các tội ác diệt chủng và các tội ác chống nhân loại xảy ra trong vùng Rwanda. Như thế, trong hai năm 1993 và 1994 liên tiếp, Liên Hiệp Quốc đă hai lần thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế ad hoc để đối phó với các tội ác nghiêm trọng xảy ra trong phạm vi nội bộ các quốc gia, mặc dù không có sự đồng ư của các nước này. Ông Tú Gàn cho rằng Hội Đồng Bảo An đă căn cứ vào Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Chương VII, Điều 41, quy định "Hội Đồng Bảo An có thể quyết định những biện pháp nào được xử dụng để tạo hiệu quả cho các quyết định của ḿnh nên Hội Đồng vẫn tự coi là có quyền thành lập những Ṭa Án H́nh Sự đặc biệt để xét xử trong những trường hợp cần thiết". Ở đây chúng tôi không đi sâu vào các lư do Liên Hiệp Quốc có "quyền" thiết lập các Ṭa Án này và chỉ ghi nhận các sự kiện đă xảy ra. Đặc biệt là tiền lệ Nam Tư: Tổng Thống đương quyền Slobodan Milosovic và các viên chức lănh đạo các ngành cao cấp nhất bị truy tố trong lúc cầm quyền có rất nhiều nét tương đồng với đảng CSVN và nhóm cầm quyền Hà Nội hiện nay, dẫu rằng Nam Tư thua xa Việt Nam cả về mức độ tội ác lẫn thời gian phạm tội.
Về điểm này, ông Tú Gàn, một người rất rành về Ṭa Án Quốc Tế và thường tỏ ra rất dè dặt khi nói đến việc truy tố đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội trước một Ṭa Án Quốc Tế, cũng đă gợi ư: "Muốn truy tố những trường hợp khác phải thiết lập một Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế có thẩm quyền truy tố và xét xử tương tự như trường hợp Rwanda và Nam Tư cũ". Trường hợp khác ông Tú Gàn nói ở đây, thiết nghĩ không trường hợp nào thích hợp với trường hợp đương kim Tổng Thống Cộng Hoà Nam Tư Slobodan Milosovic và đồng bọn bằng tập đoàn lănh đạo đảng CSVN và nhà đương quyền Hà Nội hiện nay.

2. Lư Do. Trong ba bản cáo trạng dầy gần 160 trang, Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế "ad hoc" Bosnia đă cáo buộc Milosovic và đồng bọn về các tội ác nghiêm trọng xảy ra trong thập niên 1990 cầm quyền ở Cộng Ḥa Liên Bang Nam Tư, trong đó có tội lạm dụng quyền hành, bắt giam, tra tấn hoặc ám sát những người đối lập, hành hạ thường dân vô tội, ép buộc sắc dân thiểu số rời khỏi nơi đang sinh sống,...
Tội ác của đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội đối với dân tộc Việt trong suốt hơn 70 năm qua (từ khi đảng CSĐD ra đời ngày 3/2/1930) trầm trọng hơn gấp bội trường hợp Nam Tư về mọi mặt. Chỉ tính từ vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế đến nay, số người bị giết cách này cách khác bởi chủ trương của đảng CSVN đă lên tới con số triệu, và tất cả các hành vi phạm tội đều có hệ thống, có chủ trương và vô cùng dă man đối với chính đồng bào ruột thịt. Hàng ngàn thường dân vô tội gồm cả các Giáo Sư, Bác Sĩ, Khoa Học Gia nước ngoài đă bị thảm sát hết sức man rợ rồi vùi dập trong các nấm mồ tập thể ở Huế trong dịp Tết Mậu Thân. Hàng trăm ngàn người gồm cả tu sĩ và thường dân bị hành hạ từ thể xác đến tinh thần và chết trong các "trại tập trung" ở khắp nước. Hàng trăm ngàn thường dân gồm cả tu sĩ các tôn giáo bị cướp nhà cướp đất trục xuất đến các vùng lưu đầy "khỉ ho c̣ gáy" được ngụy danh "vùng kinh tế mới" trong đó nhiều ngàn người đă chết v́ bị bỏ đói hay bệnh tật không được cứu chữa. Hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và trong rừng sâu do chủ trương "vượt biên vượt biển" của đảng CSVN, trong số này hàng ngàn người bị lừa gạt nộp vàng cho nhà nước để đi "bán chính thức" rồi đánh ch́m tàu, thuyền d́m xác xuống biển sâu thật tàn nhẫn...
Chỉ tính riêng tội ác nghiêm trọng hiện hành th́ bản phúc tŕnh thường niên mới nhất về t́nh h́nh nhân quyền thế giới năm 2001 do tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) công bố ngày 28/5/2002 vừa qua vẫn ghi nhận Việt Nam là một trong số các nước nhân quyền vẫn tiếp tục bị trà đạp nhất thế giới: Quyền tự do tôn giáo vẫn bị cấm đoán và các nhà lănh đạo cả 5 tôn giáo lớn đều bị trù dập hay giam cầm. Các người bất đồng chính kiến hay đối lập vẫn bị đàn áp, xách nhiễu và bỏ tù. Các sắc dân thiểu số vẫn bị phân biệt đối xử và đất đai của họ vẫn bị nhà nước chiếm đoạt, cụ thể và gần đây nhất là các sắc dân thiểu số vùng Tây Nguyên.(8) Hay tính riêng vụ hiến đất vùng biên giới cho Trung Quốc th́ hàng ngàn đồng bào các sắc dân thiểu số thuộc 6 tỉnh giáp ranh Trung Quốc cũng đang bị trục xuất hoặc cưỡng bách rời bỏ nơi đang sinh sống, một "tội ác nghiêm trọng" hay "tội ác chống nhân loại" bị trừng trị bởi luật pháp quốc tế hiện hành.

3. Thuận Lợi. Thiết nghĩ chưa bao giờ t́nh h́nh quốc nội và nhất là quốc tế lại "thuận lợi" bằng lúc này. Nhiều bậc thức giả đă nói nhiều về điểm này, chúng tôi chỉ nhắc lại một số điểm chính về mặt quốc tế. Trước hết, vụ khủng bố 9/11 vô cùng tàn bạo nhắm vào thường dân vô tội Mỹ làm cả thế giới choáng váng và lên án mạnh mẽ là một cơ hội vô cùng thuận lợi để vận động đưa nhóm lănh đạo đảng CSVN và cầm quyền Hà Nội , "tập đoàn khủng bố" hết sức tinh vi, có hệ thống và tàn bạo gấp bội so với nhóm khủng bố 9/11, ra trước Cộng Đồng Quốc Tế hay một Ṭa H́nh Sự Quốc Tế ad hoc Việt Nam. Khuynh hướng thế giới ngày nay là "sự duy tŕ ḥa b́nh gắn liền với sự bảo vệ nhân quyền" và "vi phạm nhân quyền là mối đe doạ lớn nhất đối với ḥa b́nh" thế giới. Con số trên 800 tổ chức phi chính phủ trên thế giới đă tham gia tích cực và góp phần thành công vào việc triệu tập Hội Nghị Rome đưa đến việc thiết lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực nhằm trừng trị tội ác nghiêm trọng trên toàn thế giới chắc chắn sẽ là một lực lượng hậu thuẫn rất đáng kể nếu được khai thác và vận động đến nơi đến chốn. Lời Mở Đầu Quy Chế Rome 17/7/1998 long trọng minh định rằng "tội ác nghiêm trọng" đe dọa "ḥa b́nh, an ninh và trật tự" thế giới; rằng "tội ác nghiêm trọng" không thể "miễn trừng trị"; rằng "chấm dứt sự miễn trừng phạt đối với các tội phạm nghiêm trọng" là "góp phần vào việc ngăn chặn tội ác"... 121 quốc gia từng tán thành các "lời cam kết" này là một lực lưỡng hậu thuẫn vô cùng quan trọng khác và người Việt hải ngoại có mặt ở hầu hết các quốc gia tôn trọng nhân quyền này. Đặc biệt Hoa Kỳ, một nước đang vô cùng căm hận khủng bố và giới lập pháp đă nhiều lần ban hành nghị quyết đ̣i hỏi nhân quyền cho Việt Nam, cụ thể điển h́nh và gần đây nhất là biểu quyết với đa số áp đảo 410/1 phiếu của Hạ Viện ngày 6/9/2001dành cho Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam là một điểm tựa chủ yếu cho giải pháp Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế "ad hoc" Việt Nam...

4. Kết Luận. Ông Tú Gàn hay đúng ra cựu thẩm phán Nguyễn Cần cho rằng việc thành lập một Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế để truy tố và xét xử các tội ác nghiêm trọng: "Không đơn giản". Thẩm Phán Phan Quang Tuệ (Ṭa Án Di Trú Liên Bang Hoa Kỳ, San Francisco) trong buổi hội thảo về Điều 4 Hiến Pháp và Tội Dâng Đất và Biển cho Trung Quốc của CSVN do Tổ Chức Phục Hưng tổ chức ngày 24/2/ 2002 ở San Jose đă nhận xét: "Với t́nh trạng Việt Kiều hồi hương (trong dịp Tết này là 4000 người/ngày) liệu NGO (non-governmental organization) có thể thành h́nh." (8) Về phía NGO Việt Nam, có thể không là một trở ngại lớn qua kinh nghiệm của các cuộc vận động trong Cộng Đồng Hải Ngoại mỗi khi xảy ra các biến cố đáng kể, cụ thể và gần đây nhất đă có thể lấy được trên 300 ngàn chữ kư ủng hộ lời kêu gọi "Dân Chủ cho Việt Nam" của Ḥa Thượng Thích Quảng Độ. Nhưng thiết nghĩ khó khăn nhất vẫn là "hiện tượng" thường xảy ra đối với bất cứ việc ǵ, dù là việc quốc gia trọng đại, nếu không bị lợi dụng vào mục đích riêng tư, phe nhóm hoặc mưu đồ bất chính th́ cũng không thiếu cảnh ồn ào diễn ra lúc đầu, làm cho có làm, làm giữa người Việt với nhau, để rồi chẳng đi tới đâu cả hay nhóm này làm th́ nhóm khác chống v́ chỉ có "tôi" là nhất, và nếu không đoàn kết sau lưng tôi (để làm "tầm bậy") th́ đánh phá, chụp mũ, xuyên tạc...
Để đạt được giải pháp Pháp Lư Quốc Tế này, vấn đề "không đơn giản" và tất nhiên có rất nhiều việc phải làm. Nhưng hiển nhiên không ai có thể phủ nhận đây là một giải pháp Pháp Lư Quốc Tế và Hội Đồng Bảo An đă hai lần xử dụng nhằm đối phó với các "tội ác chống nhân loại" trong phạm vi nội bộ các quốc gia có chủ quyền. Tuy Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế ad hoc Rwanda đă thất bại v́ nhiều lư do, chủ yếu là việc thiếu hụt tài chánh và nhân sự khiến Ṭa Án phải xử dụng Thẩm Phán thiếu khả năng và phẩm chất trong vùng Rwanda đưa đến nhiều sai lầm đáng tiếc về điều tra và xét xử nhưng tấm gương "Milosovic và toàn bộ các viên chức cao cấp nhất của một tập đoàn cầm quyền" bị truy tố và đem ra trước một Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế xét xử về các "tội ác chống nhân loại" và nhiều tội ác khác là một trường hợp cụ thể và một gợi ư vô giá cho toàn thể chúng ta.

* Trường Hợp 2. Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực và Vấn Đề Việt Nam:

1. Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague (lập năm 1945), như đă tŕnh bầy ở phần I, chỉ có quyền phân xử hạn hẹp các tranh chấp giữa "quốc gia với quốc gia". Hai Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế ad hoc Bosnia và Rwanda (lập năm1993 và 1994) chỉ có thẩm quyền truy tố và xét xử giới hạn đối với các tội ác nghiêm trọng xảy ra "trong vùng Bosnia và lănh thổ quốc gia Rwanda". Năm 1988, viện dẫn lư do quốc gia kiện quốc gia, Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague đă bác đơn của hai Luật Sư Nguyễn Hữu Thống và Phạm Nam Sách kiện Hà Nội v́ hai Luật Sư này không đại diện cho một nước nào cả. Gần đây, khi vụ "hiến đất, dâng biển" cho Trung Quốc nổ ra, cũng dựa vào lư do "quốc gia mới có tố quyền", TS Nguyễn Văn Canh (10), các LS Nguyễn Xuân Phước (11), Nguyễn Quốc Lân và đặc biệt Kư Giả cựu Thẩm Phán Tú Gàn, tại các buổi hội thảo hay trong các bài viết, đều rất hữu lư khi cho rằng "không thể nào đưa vụ hiến đất dâng biển do đảng CSVN chủ trương ra trước Ṭa Án Quốc Tế Thường Trực La Hague được."
Nhưng ngày 11/4/2002 Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực được thiết lập đă đáp ứng sự đ̣i hỏi của Cộng Đồng Quốc Tế từ lâu về một Ṭa Án Quốc Tế có thẩm quyền tài phán bao trùm khắp thế giới và không lệ thuộc vào Hội Đồng Bảo An trong lúc điều tra cũng như xét xử đối với không biết bao nhiêu tội phạm chống nhân loại đang sống nhởn nhơ ngoài ṿng pháp luật. Không ai đầy đủ thẩm quyền hơn ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc Kofi Anann, và ông Anann đă phát biểu trong ngày kết thúc Hội Nghị Rome 17/7/1998: "Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế đang h́nh thành nhằm cung cấp những ǵ từ quá lâu được xem là mắt xích bị thiếu trong hệ thống pháp luật quốc tế, một ṭa án thường trực để xét xử những tội ác liên quan sâu đậm đến nhân loại và tội ác chiến tranh". Từ Lời Mở Đầu đến hầu hết các Điều căn bản của Quy Chế Rome 17/7/1998 đă minh định "tính cách độc lập" của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực đối với Hội Đồng Bảo An và thể hiện "tinh thần" mong muốn thẩm quyền tài phán của Ṭa Án phải "bao trùm khắp thế giới."

2. Trước hết, Điều 13 minh định Hội Đồng Bảo An có quyền yêu cầu Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực "xét xử" căn cứ vào Chương VII Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Chương VII trao cho Hội Đồng Bảo An trách vụ duy tŕ "ḥa b́nh và an ninh" thế giới và Chương VII cũng trao cho Hội Đồng Bảo An quyền thi hành các "biện pháp trừng phạt" kể cả biện pháp quân sự đối với bất cứ "ai" làm "nguy hại đến ḥa b́nh và an ninh thế giới" như đă tŕnh bầy ở phần II.
Một mặt khác, Lời Mở Đầu (Preamble) của Quy Chế Rome long trọng minh định:
- Rằng các "tội ác nghiêm trọng" làm "nguy hại ḥa b́nh, an ninh và trật tự thế giới"; (Recognizing that such grave crimes threaten the peace, security and well-being of the world);
- Rằng các "tội ác nghiêm trọng" cộng đồng quốc tế quan tâm "phải không được đi vào t́nh trạng miễn trừng phạt"; (Affirming that the most rserious crimes of concern to the international community as a whole must go unpunished);
- Rằng để chấm dứt các t́nh trạng này và "v́ lợi ích của thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai" thành lập một Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực độc lập với "hệ thống tổ chức" của Liên Hiệp Quốc và có thẩm quyền xét xử đối với các "tội ác nghiêm trọng" cộng đồng quốc tế quan tâm... (Determined to these ends and for the sake of present and future generations, to establish an independent permanent International Criminal Court in relationship with the United Nations system, with jurisdiction over the most serious crimes of concern to the international community as a whole);...
Trong lúc đó, Điều 10 minh định "không một Điều khoản nào của Phần 2 của Quy Chế Rome được giải thích giới hạn hay gây thiệt hại bất cứ cách nào đến các nguyên tắc của luật quốc tế hiện hành". (Nothing in this Part shall be interpreted as limiting or prejudicing in any way existing or developing rules of international law). Part 2 gồm 17 Điều (từ Điều 5 đến 21) và có thể coi là những Điều khoản "căn bản nhất" của Quy Chế Rome, trong đó có Điều 13.
Về các "nguyên tắc của luật quốc tế hiện hành" th́ điển h́nh nhất phải kể tới nguyên tắc "lănh thổ không được giới hạn quyền của các quốc gia xét xử những tội phạm nghiêm trọng" do Ṭa Án Quốc Tế trong vụ án nổi tiếng "Lotus case" thiết lập và được các Ṭa Án Quốc Gia trên thế giới "tái" minh định nhiều lần: Ṭa Án Quốc Gia Do Thái ngày 11/12/1961 trong vụ án Aldolf Eichmann, Ṭa Án Liên Bang Hoa Kỳ trong vụ án Manuel Noriega năm 1992 và đặc biệt, Ṭa Án Tối Cao Anh trong vụ án nổi tiếng Augusto Pinochet làm rung chuyển luật pháp quốc tế năm 2000.
Như thế, căn cứ vào Lời Mở Đầu, Điều 10 và Điều 13 của Quy Chế Rome và các nguyên tắc của luật quốc tế hiện hành, "tội ác nghiêm trọng" là "hành vi đe dọa ḥa b́nh, an ninh thế giới" và Hội Đồng Bảo An có thể yêu cầu Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực "truy tố và xét xử" các hành vi đe doạ này do bất cứ ai và bất kỳ từ đâu tới. Ngoài ra, nghĩa vụ của các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc là "ǵn giữ ḥa b́nh thế giới" và "bảo vệ nhân quyền" v́ "vi phạm nhân quyền" theo quan niệm phổ quát của cộng đồng quốc tế là "mối đe dọa lớn nhất cho ḥa b́nh" của thế giới ngày nay. Vậy th́, khi một nước hội viên của Liên Hiệp Quốc (Việt Nam cộng sản chẳng hạn) bị cáo buộc về các tội ác nhân quyền trầm trọng, tức "đe dọa ḥa b́nh, an ninh thế giới" và cũng đi ngược lại sự ḍi hỏi phổ quát "bảo vệ nhân quyền" của cộng đồng thế giới ngày nay, Hội Đồng Bảo An có quyền truy tố hoặc Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực có quyền xét xử hay phải đợi quốc gia này phê chuẩn Quy Chế Rome hoặc ủy quyền xét xử cho Ṭa Án, như các Điều hạn chế đă phân tích trên quy định?

3. Theo Điều 13 (ngoài các nước hội viên Quy Chế Rome và Hội Đồng Bảo An được phát động tố quyền đối với các "tội ác nghiêm trọng" trước Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực), Công tố viên của Ṭa Án này có quyền "tự tiến hành việc điều tra" và đưa ra xét xử các "tội ác nghiêm trọng" do Ṭa Án "tự" phát động tố quyền qua Công tố viên hay do "nạn nhân khởi tố". Trong trường hợp này, câu hỏi trên được nhắc lại là "điều kiện phê chuẩn Quy Chế Rome hay ủy quyền xét xử cho Ṭa Án" có thể nào giới hạn thẩm quyền của Công tố viên theo tinh thần "tội ác phải bị trừng trị và tội phạm không thể được miễn trừ" của luật pháp quốc tế hiện hành hay "quyền khởi tố" của nạn nhân đối với các "tội ác nghiêm trọng" là "mối đe dọa lớn nhất cho ḥa b́nh thế giới" mà kẻ phạm pháp "phải bị truy tố đến tận cùng trái đất và đem ra xét xử bất cứ ở đâu và bất kỳ lúc nào" của "luật lư" quốc tế hiện nay?
Về điểm này, Barbara Crossette, bỉnh bút chuyên về luật pháp của nhật báo New York Times, đă có nhận xét dù Tổng Thống Bush có rút chữ kư của Hoa Kỳ khỏi danh sách 121 nước ủng hộ cũng thế thôi v́ sẽ "không một quốc gia nào được xem là ngoài thẩm quyền tài phán của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực. Trên lư thuyết, người Mỹ, từ hàng viên chức cao cấp nhất trong chính quyền như Bộ Trưởng Quốc Pḥng hay Bộ Trưởng Ngoại Giao đến người lính Mỹ, đều có thể bị truy tố về tội h́nh sự (trước Toà Án này). (Bush appers to be removing the signature of the US from the treaty creating it. Even so, no country is deemed to be outside the court's jurisdiction. In theory, any American, from a high-ranking official like the Secretary of Defense or State to a soldier in the field, could be accused of a crime).
Phải chăng các nhà lập pháp Hoa Kỳ ngăn chặn và phản ứng mạnh mẽ việc thiết lập Ṭa Án là cũng đă nh́n thấy vấn đề như Barbara Crossette: "Không một nước nào được tự coi là ngoài thẩm quyền tài phán" của Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực. Ngay sau khi thấy không thể ngăn cản được cộng đồng quốc tế có khuynh hướng cương quyết thành lập Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế Thường Trực qua việc 120 nước đă kư kết ủng hộ Quy Chế Rome ngày 17/7/1998 và lời Mở Đầu đă minh định rằng "tội ác nghiêm trọng" là "đe dọa ḥa b́nh, an ninh thế giới", rằng "tội ác nghiêm trọng" là "không được miễn trừng phạt", rằng "chấm dứt sự miễn trừng phạt các tội ác nghiêm trọng" là "góp phần ngăn chặn các tội ác"... giới bảo thủ trong Quốc Hội Hoa Kỳ đă hành động quyết liệt để ngăn chặn việc thiết lập Ṭa Án này. Dân Biểu Tom DeLay và Thượng Nghị Sĩ Jesse Helms đă đệ nạp cùng lúc &#