|
SỰ CHÍNH DANH, CĂN BẢN PHÁP LƯ QUỐC GIA
VÀ QUỐC TẾ CÔNG PHÁP CỦA CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM
HẢI NGOẠI VÀ QUỐC DÂN ĐẠI HỘI
Giáo sư Cao Thế Dung
Dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất
không thể tách rời, không thể phân cách Bắc, Trung, Nam, Kinh và Thượng,
quốc nội và Hải ngoại. Cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại là một nửa phần thân
mệnh dân tộc ở nước ngoài, từ cộng đồng Việt Nam ở Ukraine, Nga sô, Ba
Lan, Hung Gia Lợi (hungaria), Bảo Gia Lợi (Bulgaria)Ẩ và ở toàn cơi Đông
Âu cho đến Tây Âu, Bắc Mỹ và trên khắp thế giới. Cộng đồng Việt Nam Hải
Ngoại bao gồm cả đồng bào đă sống và chiến đấu, đă sinh ra, lớn lên và
phục vụ dưới chế độ Việt Minh và Cộng sản trước năm 1975 mang danh hiệu
Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa hay Việt Nam Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa sau năm
1975. Nếu cộng đồng Việt Nam hải ngoại chỉ coi là (hay tự coi là) kế thừa
hay là thành tố c̣n lại của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa trước năm 1954, nếu
tự coi là như thế sẽ là một sai lầm lịch sử, đối ngược lại tính thống nhất
của đại khối dân tộc Việt Nam.
DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT - DUY NHẤT LÀ MỘT
Dân tộc Việt Nam chỉ là MỘT, người Việt Trung, Nam Bắc, Kinh, Thượng,
Trong và Ngoài, ở dưới chế độ Việt Nam Cộng Ḥa cũ hay dưới chế độ Cộng
sản, trước và sau năm 1975, chỉ là MỘT. Nước là dân tộc tính của dân tộc
Việt Nam, tức là thủy tính. Quốc Tổ là Lạc Long Âu Cơ từ dưới nước mà lên,
tuy là huyền thoại nhưng khoa học từ đầu thế kỷ thứ hai mươi (XX) đă chứng
minh được rằng muôn vật thụ tạo trên hành tinh này là do từ biển mà lên,
nghĩa là từ đáy biển, từ biển theo tiến tŕnh sinh hóa mà lên đất liền.
Dân tộc ta bám lấy đất mà sống, nên dân gian có câu: Ềbói đất nhặt cỏỂ.
Dân tộc ta gọi Đất là Mẹ, Cha là Trời, lănh thổ cư dân sinh tụ dưới một
người thủ lănh đầu tiên của họ Hồng Bàng là Nước. Trên thế giới không thấy
ở đâu gọi quốc gia (the nation), xứ sở (the country) là NƯỚC, chỉ có Việt
Nam gọi quốc gia, xứ sở của ḿnh là NƯỚC, đơn giản mà rơ ràng, sống động,
chu lưu mà bất biến. Đất và Nước tuy hai mà MỘT. Đất nước chỉ có một là
đất nước Việt Nam.
Do vậy, nếu chỉ gắn bó riêng một di sản tinh thần và lịch sử của chế độ
Việt Nam Cộng Ḥa với cộng đồng Việt Nam hải ngoại là một sai lầm trong
thực tế, đối ngược lại căn bản và tính dân tộc Việt Nam. Nếu cho rằng cờ
mầu vang ba sọc đỏ chỉ là tiêu biểu cho chế độ Việt Nam Cộng Ḥa ở miền
Nam trước năm 1975 lại là một ngộ nhận, thận chí c̣n là một sai lầm lịch
sử. Cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong bối cảnh lịch sử năm 1948-1949 nước
Việt Nam đă thống nhất, ít nhất trên danh nghĩa, chưa qua phân Bắc Nam, ấy
là chưa kể cờ vàng với quẻ Ly (kinhdịch) ở giữa là quốc kỳ của nước Việt
Nam độc lập, dù độc lập dưới chế độ quân quản của Nhật, thời kỳ quân đội
Nhật chiếm đóng Việt Nam. Nhưng trên danh nghĩa Việt Nam đă độc lập. Nước
Miến Điện và Nam Dương cũng được độc lập như hoàn cảnh của Việt Nam vào
mùa Xuân năm 1945.
Ngày 12 tháng 3/1945, sau khội Nga đảo chính Pháp (9-3), Hoàng Đế Bảo Đại
triệu đại sứ Nhật Yokoyama vào Hoàng cung, trao cho ông bản Tuyên ngôn Độc
lập, nguyên văn như sau:
ỀChiếu t́nh h́nh thế giới nói chung và t́nh h́nh Á Châu nói riêng, chính
phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước
bảo hộ kư với nước Pháp được băi bỏ và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập
quốc gia.
ỀNước Việt Nam cố gắng tự lực, tự cường, để xúng đáng là một quốc gia độc
lập và sẽ theo đường hướng của Bản Tuyên Ngôn chung của khối Đại Đông Á,
hầu giúp đỡ nhau tài nguyên cho nền thịnh vượng chung.
ỀV́ vậy, chính phủ nước Việt Nam đă đặt tin tưởng vào sự thành tín của
nước Nhật và đă có quyết định cộng tác với nước này, hầu đạt mục đích nói
trên.
ỀKhâm thử.
Huế, ngày 27 tháng 1 năm thứ 20, triều Bảo ĐạiỂ (Bảo Đại, Con Rồng Việt
Nam. Hồi Kư chính trị 1913-1987). California 1990, trang 162).
QUỐC THỐNG HỒNG BÀNG
Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại cầm đầu được h́nh thành
do Hiệp Định Elyseé ngày 3 tháng 8 năm 1949 và được Quốc Hội Pháp phê
chuẩn sau đó, là một chế độ được h́nh thành trên căn bản luật pháp quốc tế
và được cộng đồng quốc tế thừa nhận (ngoại trừ khối cộng sản). Hiệp định
Elyseé 1949, Tổng Thống Vincent Auriol nhân danh Pháp Quốc kư văn kiện tại
văn pḥng Tổng Thống, điện Elyseé Ba-Lê trao trả lại nước Việt Nam nền độc
lập, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ. Vua Bảo Đại với tư cách Hoàng Đế
Việt Nam, tiếp nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ của nước
Việt Nam. Khi kư Hiệp Định Elyseé với tư cách Hoàng Đế Việt Nam, vua Bảo
Đại đang giữ Quốc Ấn truyền thừa từ vua Gia Long (1902-1820). Trước khi
lên ngôi, với danh vị Nguyễn Vương, chúa Nguyễn Ánh vẫn nhân danh đế hiệu
vua Lê và nước Đại Việt (1801 trở về trước). Đăng quang ở điện Thái Ḥa,
kinh thành phố Huế. Vua Gia Long kế thừa nhà Lê, giữ ngôi vua chính thống
của nước Đại Việt. Vua Gia Long đích thân ra Nam Kinh, Thanh Hóa, tế lễ
tiên đế nhà Lê tại lăng vua Thái Tổ (1428-1433) để kính cẩn cáo yết với
các tiên đế nhà Lê. Vua Thừa Thiên là thừa kế nhà Lê để Ềtrị nước chăn
dânỂ theo nền quốc thống truyền thừa từ đời vua Hùng, họ Hồng Bàng, nước
Văn Lang. Nền quốc thống ấy đă được các vua đầu triều Nguyễn long trọng
biểu dương như một bản tuyên ngôn ngắn gọn và đầy đủ ư nghĩa. Gian chính
giữa điện Thái Ḥa, đại điện quốc gia, tiêu biểu cho quốc gia và đế quyền,
đặt ngai vàng. Phía trên ngai vàng, ở ngay trên đỉnh đầu vua, khắc trên gỗ
quư, sơn màu son với 4 chữ mạ vàng:
ỀVăn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lư đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục đất Đường NghiêuỂ
Dịch nghĩa: Nước Việt Nam là nước có nền văn hiến hàng ngàn năm, kể từ
ngày ta - triều đ́nh Nguyễn - đă thống nhất đất nước thành một gian sơn
hàng ngàn dặm. Từ lúc vua Hồng Bàng mở mang bờ cơi cho đến nay, phương Nam
này từ nay có một triều đ́nh thanh b́nh và tốt đẹp như triều đại Đường và
Ngu của vua Nghiêu và vua Thuấn. (Giáo Sư Huỳnh Minh Đức - Từ Ngọ Môn đến
điện Thái Ḥa - nxb Tuổi Trẻ, 1994, trang 28).
Nhà nước Cộng sản Việt Nam dưới danh vị Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tức Việt
Minh, ra đời vào ngày 2-9-1945 không nằm trong ḷng quốc thống thiêng
liêng ấy. Nó đă đoạn tuyệt với quốc thống và truyền thống dân tộc, đoạn
tuyệt hẳn với ỀHồng Bàng khai tịch hậuỂ.
TỪ CHẾ ĐỘ QUỐC GIA VIỆT NAM ĐẾN CHẾ ĐỘ ĐỆ II VIỆT NAM CỘNG H̉A
Một chế độ đă cáo chung th́ không thể phục hồi như một triều đại quân chủ
trung hưng. Chế độ Cộng Ḥa như Đệ Tứ Cộng Ḥa Pháp Quốc chấm dứt, một nền
Cộng ḥa mới được thành lập để tiếp nối kế thừa. Đến nay, với Đệ Ngũ Cộng
Ḥa, nước Pháp đă trải qua bốn lần đổi thay. Vẫn một quốc kỳ Tam Tài. Chế
độ Việt Nam Cộng Ḥa ở miền Nam tuy đă cáo chung, lá cờ nền vàng ba sọc đỏ
vẫn tồn tại, tung bay khắp nơi ở hải ngoại.
Cộng đồng Việt Nam hải ngoại chỉ đứng dưới lá cờ thiêng liêng, tiêu biểu
ấy mà thôi. Một chế độ như Đệ II Việt Nam Cộng Ḥa đă cáo chung, tất không
thể làm sống lại, nhưng chế độ Việt Nam Cộng Ḥa ở miền Nam lại kế thừa và
tiếp nối chế độ Quốc Gia Việt Nam (1949-1956) là một chế độ được thành lập
trên căn bản pháp lư quốc tế và được cộng đồng quốc tế và công pháp quốc
tế công nhận do từ Hiệp định Elyseé đến Hiệp định Genève 1954.
Một chế độ là bao gồm tất cả mọi cơ cấu hệ thống chính quyền và định chế
quốc gia, một chế độ như chế độ Cộng Ḥa ở miền Nam h́nh thành từ Hiến
Pháp 1956 và ra đời ngày 26-10-1956, chế độ ấy thuộc về toàn thể nhân dân
miền Nam Việt Nam, ít nhất trên danh nghĩa, chế độ ấy đă do dân, bởi dân
và v́ dân. Chế độ Đệ II Việt Nam Cộng Ḥa kế thừa, tiếp nối do Hiến Pháp
1967, ít nhất trên danh nghĩa, đó là một chế độ có căn bản pháp lư quốc
gia và quốc tế công pháp, là một chế độ được phân định ba ngành rơ rệt:
lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Ngày 30-4-1975, chế độ Đệ II Cộng Ḥa cáo chung do Cộng sản Việt Nam cưỡng
chiếm bằng vũ lực với một ưu thế quân sự tràn ngập, với một hỏa lực gấp
bội. Việt Nam Cộng Ḥa ở vào t́nh thế như kẻ bị trói tay cho địch nhân
đánh. Tướng Dương Văn Minh ngụy danh Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa nhưng
ông không hội đủ tư cách pháp lư quốc gia cũng như quốc tế trong tư cách
ấy. Không ai công nhận chính phủ Dương Văn Minh kể cả Cộng sản Việt Nam,
chỉ là một hiện tượng phù vân. Chính phủ do ông lănh đạo chỉ là sự đoạt
quyền trong một thế Việt Nam Cộng Ḥa rơi vào một khoảng trống quyền lực
và không có lănh đạo sau khi Tổng Thống Trần Văn Hương bị cưỡng bách phải
từ chức. Chính phủ Dương Văn Minh, một chính phủ hiện diện như một tia
chớp trong cơn băo tố ở miền Nam, chính phủ ấy không được h́nh thành trên
căn bản Hiến Pháp 1967 và lẽ đương nhiên không phải là một chính phủ kế
thừa và nối tiếp chính phủ Đệ II Việt Nam Cộng Ḥa.
Bản tuyên bố đầu hàng ngày 30-4-1975 của tướng Dương Văn Minh tuyệt đối
không phải là bản tuyên bố đầu hàng của người lănh đạo chế độ Đệ II Việt
Nam Cộng Ḥa mà chỉ là bản tuyên bố của người cầm đầu chính phủ đoạt
quyền, cưỡng lư, không có căn bản luật pháp quốc gia và quốc tế, chưa được
quốc tế công nhận đă đành mà chỉ là một thoáng hiện diện, hoàn toàn đối
ngược lại Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa 1967. Vả lại, dù là một chính phủ
đoạt quyền cưỡng lư, bản tuyên bố đầu hàng của tướng Dương Văn Minh chỉ là
thuần túy quân sự, hạ lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa hạ khí giới. Dù
bản tuyên bố ấy bất hợp pháp, đối ngược lại Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa
1967, ông Minh cũng đă không từng tuyên bố chế độ Việt Nam Cộng Ḥa chính
thức cáo chung, cho dù nếu có, th́ lời tuyên bố ấy cũng là bất hợp pháp và
vô giá trị. Sự thật rơ rệt là, Cộng sản Việt Nam đă cướp chính quyền Việt
Nam Cộng Ḥa. Toàn bộ hệ thống cơ cấu chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa bị sụp
đổ trong một sớm một chiều, sự thật ai cũng biết đó là do âm mưu đen tối
của một quyền lực buôn bán chính trị quốc tế đă toa rập với tập đoàn Cộng
sản Quốc tế Liên Sô, Cộng sản Việt Nam chỉ là những kẻ được ủy nhiệm trong
một cuộc chiến ủy nhiệm. Thư Trắng (Bạch thư) của Cộng sản Việt Nam công
bố năm 1980 dưới tựa đề "Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30
năm qua" (Bộ Ngoại giao Hà Nội, nxb Sự Thật 1980). Thư trắng này, Cộng sản
Việt Nam đă bạch hóa kế hoạch thôn tính miền Nam bằng vơ lực mà Trung Cộng
lại không đồng ư. Bắc Kinh muốn duy tŕ nguyên trạng 2 miền Mam, Bắc Việt
Nam do Hiệp định Genève 1954 đă phân định và kư kết lấy vĩ tuyến thứ 17
làm ranh giới giữa hai miền. (Thư trắng, Bộ Ngoại Giao Nhà Nước CHXHCNVN -
nxb Sự Thật, Hà Nội 1980, trang 32-99)
Dù chế độ Đệ II Cộng Ḥa đă cáo chung từ năm 1975 đến nay, các Hiệp định
và các văn kiện liên quan đến sự h́nh thành chế độ Việt Nam Cộng Ḥa trên
căn bản luật pháp quốc gia, quốc tế và công pháp quốc tế từ Hiệp định
Genève 1954 và Hiệp định Ba-Lê 1973 vẫn c̣n nguyên giá trị, không những là
sự thật lịch sử không thể phủ nhận mà c̣n là những chứng từ của luật pháp
quốc tế và công pháp quốc tế, hiển nhiên c̣n tồn tại chưa từng bị tiêu
diệt, ngoại trừ Cộng sản Việt Nam đă đơn phương xé bỏ.
TỪ CHẾ ĐỘ QUỐC GIA VIỆT NAM ĐẾN VIỆT NAM CỘNG H̉A Ở MIỀN NAM
Ngày 14-6-1949 tại ṭa đô sảnh Sàig̣n, Cao ủy Pignon, đại diện chính phủ
Pháp và cựu Hoàng Bảo Đại với tư cách Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam độc
lập và thống nhất trao đổi các văn kiện về Hiệp định Elysée. Trong lời
hiệu triệu quốc dân, trước đại diện Pháp, Quốc Trưởng Bảo Đại long trọng
tuyên bố, để có địa vị quốc tế hợp pháp, Quốc Trưởng Bảo Đại tạm giữ danh
hiệu Hoàng đế, cho đến khi tổ chức tổng tuyển cử. Quốc Trưởng Bảo Đại nói:
"Tôi lâm thời giữ danh vị hoàng đế để có địa vị quốc tế hợp pháp nhưng sau
này quốc dân sẽ quyết định theo hiến pháp" (nguyên văn: ỀJe garde
provisoirement le titre d' Empereur afin d'avoir une positon
internationale légale, mais le peuple décidera de sa ConstitutionỂ. (Bản
tin Vietnam Press - VN Thông Tấn Xă, ấn bản Pháp và Việt Nam, Sài G̣n ngày
15-6-1949)
Một số sách báo, kể cả một số sử gia học giả đă từng phê b́nh vua Bảo Đại,
nhiều trường hợp nặng nề, không nương tay, ấy là chưa kể sách báo của CSVN
vừa bôi nhọ vừa mạt sát, vừa xuyên tạc, nhưng ít nhất trên danh nghĩa,
luật pháp quốc gia và quốc tế công pháp, Bảo Đại là vị Nguyên thủ duy nhất
của nước Việt Nam đă tiếp thu nền độc lập và thống nhất của Việt Nam do
Pháp trao trả. CSVN kết án Bảo Đại và chính phủ Quốc Gia Việt Nam là bù
nh́n, tay sai của Pháp, nhưng ít nhất trên danh nghĩa và cả trong thực tế,
chỉ trong ṿng 6 năm 1949-1954, chính phủ QGVN dưới sự lănh đạo của Quốc
Trưởng Bảo Đại đă thu hồi được đầy đủ quyền hành từ trong tay Pháp. Chính
phủ QGVN là một chính phủ duy nhất được Cộng đồng quốc tế công nhận, được
bốn đại cường của Hội đồng Bảo An LHQ gồm Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Trung Hoa và
26 nước công nhận, thiết lập bang giao trên cấp bậc Đại sứ như Ư Đại Lợi,
Ḥa Lan, Vương quốc Bỉ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Gia Nă Đại, Thái Lan, Phi
Luật Tân, Mă Lai, Tân Gia Ba, Lào quốc, Cao Miên, Maróc, Tunisia, Vương
quốc Ả Rập, Vatican...
Ngày 7-2-1950, Hoa Kỳ công nhận QGVN. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố: "Công
nhận chính phủ Bảo Đại, đó là chính sách căn bản của Mỹ, ủng hộ diễn tiến
ḥa b́nh, dân chủ của các dân tộc dân chủ, tự quyết và độc lập" (The
Pentagon papers - the New York Times Edition, trang 64-65 - Department of
State bulletin, feb. 2, 1949).
QGVN là một hội viên chính thức (the full membershộip) của các Tổ chức
quốc tế và các định chế thuộc LHQ, đáng kể như Tổ chức Giáo Dục, Khoa Học,
Văn Hóa, LHQ, UNESCO, Tổ chức Y tế Quốc tế (WHO hay OMS), Tổ chức Lương
Nông Quốc tế (FAO), Ngân Hàng Thế giới - The World Bank, Quỹ Tiền Tệ Quốc
Tế IMF, Quỹ Nhi Đồng LHQ, UNICEF, Ủy Hội Thế Vận Hội OLYMPIC, v.v..., Lao
Động Quốc Tế ILO, Bưu chính, Hàng Hải Viễn Thông Quốc Tế, v.v... Không kể
các tổ chức vùng như Viễn Đông Kinh Ủy Hội, Ngân Hàng Phát triển Á châu...
CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ VÀ QUỐC GIA VIỆT NAM THAM DỰ HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH LIÊN
HIỆP QUỐC (LHQ) 1951
Đầu tháng 9-1951, chính phủ Quốc Gia Việt Nam chính thức đại diện quốc gia
Việt Nam, độc lập và thống nhất tham dự Hội nghị quốc tế Cựu Kim Sơn (San
Francisco) về ḥa b́nh Nhật Bản. Hội nghị này do LHQ đứng ra tổ chức, mời
51 quốc gia đă từng liên hệ và đóng góp vào cuộc chiến đấu chống Nhật Bản
trong đệ nhị thế chiến 1939-1945 để thảo luận và kư ḥa ước về vấn đề chấm
dứt chiến tranh và thiết lập bang giao với Nhật Bản, đồng thời Nhật Bản
phải bồi thường chiến tranh.
Hội nghị do Đại Hội đồng LHQ và Hội Đồng Bảo An LHQ bảo trợ gồm: Anh, Mỹ,
Nga, Pháp và Trung Hoa. Đây cũng là Hội nghị thượng đỉnh, do Nguyên thủ
của các quốc gia, Tổng thống và Thủ tướng tham dự, đáng kể có Tổng thống
Hoa Kỳ Harry Truman và Tổng thống Tưởng Giới Thạch, Trung Hoa.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam cũng như trong lịch sử bang
giao quốc tế cận đại, Việt Nam được tham dự một hội nghị thượng đỉnh quốc
tế do LHQ chủ tŕ. Quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ tung bay ngang hàng với các
nước như Liên Sô, Anh quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Trung Hoa, Thái Lan, Nam Dương,
Phi Luật Tân, Cao Miên, Lào, Miến Điện... Phái đoàn QGVN do Thủ tướng Trần
Văn Hữu cầm đầu. Trước hội nghị, Thủ tướng Trần Văn Hữu long trọng đọc bản
Tuyên ngôn của Quốc gia Việt Nam. Thủ tướng Hữu mở đầu: "Kính thưa ông Chủ
Tịch- Kính thưa quí vị đại biểu - kính thưa quí vị - Thật là nghiêm trang
và cảm kích cho Việt Nam được đến Cựu Kim Sơn tham dự công việc của hội
nghị về ḥa b́nh với Nhật Bản. Sở dĩ chúng tôi được hiện diện tại đây là
nhờ các tử sĩ của chúng tôi và ḷng hy sinhvô bờ bến của dân tộc chúng
tôi, dân tộc đă chịu đựng biết bao là đau khổ để được sống c̣n và giành sự
trường tồn cho ṇi giống đă có hơn 4000 năm lịch sử."
Về "Vị trí của Việt Nam trong Á Châu," Trưởng phái đoàn QGVN nói tiếp:
"Là những người Á châu, chúng tôi thành thật hân hoan trước những viễn
tượng mới mẻ mở rộng cho một quốc gia Á Đông sau khi kết thúc thỏa hiệp
ḥa b́nh này. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng góp phần vào sự phục hưng của
một dân tộc Á Đông b́nh dị và cần mẫn, như nước Nhật Bản đây, chúng tôi
tin chắc rằng tất cả những người dân châu Á phải là người phát khởi thịnh
vượng chung của ḿnh, họ cũng trông cậy nơi chính ḿnh để xa lánh mọi chế
độ đế quốc và trong việc thiết lập một trạng thái quốc tế mới, một sự liên
đới Á châu cũng cần thiết như một liên đới Âu châu vậy.
Về "Chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa," Trưởng phái đoàn QGVN long trọng
tuyên bố:
Và cũng v́ cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những
mầm móng các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đă có từ lâu
đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Nguyên văn Pháp ngữ của đoạn văn quan trọng này như sau:
ỀEt comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer
les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les êles Spratly et
Paracels qui de tout temps ont fait partie du Vietnam (Toàn văn, đăng
trong France - Asie, no. 66&67, Nov.&Dec. 1951, trang 505).
Trưởng phái đoàn QGVN long trọng đọc bản tuyên cáo này vào ngày 7-9-1951
trước Trưởng phái đoàn Trung Hoa Quốc Gia, đại diện duy nhất của Trung Hoa
và là một đại cường trong Ngũ cường Hội Đồng Bảo An LHQ. Trưởng phái đoàn
THQG không phản đối tức mặc nhiên nh́n nhận lời tuyên bố kể trên của Việt
Nam.
Không một nước nào nêu vấn đề chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa, ngoại
trừ Liên Sô yêu cầu trao cho Trung Cộng nhưng các nước đều phản đối. Khi
phái đoàn QGVN long trọng (và hùng hồn theo báo chí) xác định chủ quyền
của VN trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa th́ phái đoàn Liên Sô im
lặng, không phản đối, tức là mặc nhiên chấp nhận sự đồng ư của Hội nghị.
Tiến thêm một bước nữa, QGVN nghiễm nhiên là đại diện duy nhất của nước
Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Ngày 2-9-1952, với sự bảo trợ của Pháp, QGVN xin gia nhập LHQ, được Hội
Đồng Bảo An chấp thuận với 10 phiếu trong số 11 Hội viên với 4 đại cường
Anh, Pháp, Trung Hoa và Hoa Kỳ, chỉ duy nhất có một phiếu phủ quyết của
Liên Sô.
HỘI NGHỊ GIƠ-NE-VƠ 54- TRUNG CỘNG, QGVN VÀ VIỆT NAM CỘNG H̉A
Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954 được triệu tập do Anh Quốc và Liên Sô đồng chủ
tịch. Chính phủ QGVN được mời tham gia Hội nghị như một quốc gia cùng với
phái đoàn Việt Minh dưới danh nghĩa chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.
Như vậy là mặc nhiên Liên Sô nh́n nhận QGVN hiện diện trong Hội nghị là
một nhà nước. Sử cho biết: Năm 1954 Chu Ân Lai đến Geneve, cầm đầu phái
đoàn Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, sau khi kư Hiệp Định Giơ-ne-vơ, Chu Ân
Lai mở dạ tiệc ở biệt thự của Phái đoàn Trung Quốc, ông ta mời Đại sứ Ngô
Đ́nh Luyện đến dự, sắp xếp ông Luyện ngồi ở bàn danh dự cùng với họ Chu và
Phạm Văn Đồng. Qua câu chuyện về Cấm thành Bắc Kinh và kinh thành Huế, Chu
Ân Lai đă ngơ ư mời ông Luyện đến thăm Bắc Kinh. Ông Luyện đáp: "Tôi là em
của Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm và là đại sứ, làm thế nào tôi có thể đến đó
(BK)?" Họ Chu đáp: "Ông đến với tư cách là khách mời của tôi" (Vous
viendrez comme mon invité). Đại sứ Luyện trả lời: "Nhưng thưa, thăm Cấm
thành phải có th́ giờ, không thể nào thăm trong mấy ngày" (Luyen repliqua:
"Mais cela preud du temps pour voir la Cité interdite, et ne peut se faire
en quelques jours". Chu Ân Lai bắt ngay vào chủ đích của ông ta, họ Chu
nói: "Ông đến Bắc Kinh để đại diện cho chính phủ của ông" (Alors Chu lui
dit: "Vous viendrez pour représenter votre gouvernement à Pékin"). (Nguyễn
Phú Đức Vietnam Pourquoi Les Etats Unis ont-ils perdu laguerre? Paris
1996, trang 105).
Tài liệu căn bản khác, từ các văn bản của bộ Ngoại giao Pháp ở Quai d'
Orsay, Ba Lê do F. Joyaux tŕnh bày qua cuốn "La Chine et le Règlement du
premier conflict d'Indochộine - Genève 1954. (Paris 1979, tr. 198-224), đă
cho thấy rơ phái đoàn QGVN trong Hội nghị là hiện diện của một chính phủ,
Liên Sô và Trung Cộng đă nh́n nhận và chấp nhận sự hiện diện hợp pháp ấy
c̣n phái đoàn Việt Minh tức chính phủ VNDCCH là một chính phủ được mặc
nhiên nh́n nhận là một thực thể (de facto).
Năm 1980, Bộ Ngoại giao Hà Nội công bố Thư Trắng (BạchThư) dưới tựa đề "Sự
thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua", Bạch thư này tố cáo
Trung Cộng đă bắt bí, đă áp đặt, đă cưỡng bách phái đoàn VNDCCH trong việc
kư kết Hiệp định, đồng thời Hà Nội cũng tố cáo Trung Cộng đă âm mưu tạo ra
2 nước Việt Nam và nh́n nhận miền Nam.
Với Hiệp định Genève 54, chính quyền QGVN đương nhiên là một chính quyền
hợp pháp về mọi mặt và chính quyền ấy đă đi trước chính quyền miền Bắc
được nhiều bước khi giữ được chính danh thống nhất. Ngày 12-5-54, Ngoại
trưởng Nguyễn Quốc Định, Trưởng phái đoàn QGVN, tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ
đă tuyên bố: "Lập trường của chính phủ QGVN là chỉ có một nước Việt Nam".
Ông Định nhấn mạnh, chỉ có một chính phủ QGVN và một Quân đội QGVN nên
Quân đội Việt Minh phải sát nhập với sự kiểm soát quốc tế. Tuy nhiên, Cộng
sản vừa chiến thắng quân sự lớn lao như thế, lời tuyên bố của Nguyễn Quốc
Định trở thành tiêu cực, nên "chỉ được sự tiếp nhận một cách lịch sự lạnh
lùng" ((La Conture et Devillers, La Fin d'une querre, trang 147 -
Historica. Notre querre d'Indochine, no. 25 - 1972, Số đặc biệt về chiến
tranh Đông Dương). Song ít nhất ông Định đă nêu lên được danh nghĩa thống
nhất của QGVN mà CSVN dù là kẻ chiến thắng quân sự (Điện Biên Phủ), song
đă để mất danh nghĩa này v́ họ là kẻ chiến bại chính trị.
Nội các cuối cùng của QGVN do Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm thành lập ngày
7-7-54, là một chế độ có đầy đủ căn bản pháp lư, một chính phủ hợp pháp về
mọi phương diện từ sự chuyển quyền của chính phủ Pháp đến quốc tế công
pháp. Qua các văn kiện chính thức kư giữa 2 bên, Cộng ḥa Pháp và Quốc Gia
Việt Nam c̣n lưu trữ tại văn khố quốc gia Pháp (CARAN - Paris - Văn khố
trung ương Pháp quốc). Tác giả Pháp Blanchet, qua cuốn "Sự ra đời của quốc
gia liên kết Việt Nam" - La naissance de l'État associé du Viet Nam - đă
tŕnh bày khá đầy đủ về sự h́nh thành của QGVN với Quốc Trưởng Bảo Đại và
các định chế của QGVN căn cứ từ các văn kiện chính thức. Những văn kiện ấy
có đầy đủ giá trị và cơ sở luật pháp và quốc tế công pháp để minh thị chế
độ QGVN là một chế độ duy nhất hợp pháp ở Việt Nam. Các hiệp ước 1862,
1874, 1884 và các văn kiện khác triều đ́nh Huế kư kết với Pháp đă bị tiêu
hủy. Chính Phủ QGVN ra đời do hợp pháp thừa kế đất nước Việt Nam về mọi
phương diện y như nguyên trạng trước năm 1860 (năm Triều đ́nh Huế phải kư
ḥa ước Nhâm Tuất với Pháp). Đồng thời chính phủ QGVN và sau là chính phủ
VNCH vẫn phải thi hành một số hiệp ước mà Bảo Hộ Pháp nhân danh Việt Nam
kư với nhà Thanh Trung Hoa "phân định biên giới" Bắc Kỳ và Hoa Nam, phân
định ranh giới vịnh Bắc Việt, công ước 1887-1895, chính phủ QGVN vẫn c̣n
nghĩa vụ thi hành 2 công ước này cho đến ngày chính phủ QGVN yêu cầu Trung
Hoa thương thuyết, kư kết các công ước khác thay thế công ước 1887 và
1885.
Do Hiệp ước Thiên Tân 1885 và Công ước Constans 1887, nước Pháp làm chủ
các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tất cả các hải đảo khác thuộc lănh
hải Việt Nam. Do đó, do Hiệp ước Elyseé 1949, các quần đảo kể trên và tất
cả các hải đảo khác thuộc lănh hải Việt Nam đă được Pháp trao trả cho Việt
Nam, thuộc chủ quyền Việt Nam. Chính phủ CHXHCNVN thừa kế chính phủ VNDCCH
là một chính phủ bất hợp pháp, không được các nước công nhận (ngoại trừ
Liên Sô, Trung cộng và các nước khối CS công nhận). Chính phủ ấy cho đến
năm 1975, không được nước Pháp công nhận. VNCH thừa kế QGVN, dù VNCH đă
cáo chung, các công ước 1887, 1895 vẫn c̣n tồn tại chưa tiêu hủy. Chế độ
VNDCCH và CHXHCNVN là bất hợp pháp, cho nên CHXHCNVN không thể nhân danh
nước Việt Nam để tiêu hủy hay lấy 2 Công ước 1887 và 1895 để thương thuyết
với Trung Cộng rồi nhượng đất và nhượng biển cho Trung Cộng.
Hiệp định Elyseé 1949 vẫn c̣n nguyên giá trị, chưa từng bị tiêu hủy. Bản
tuyên bố của Hoàng đế Bảo Đại năm 1949 vẫn c̣n giá trị, chưa từng bị tiêu
hủy. Chính phủ VNDCCH và CHXHCN không có quyền tiêu hủy về phương diện
luật pháp, quốc gia và quốc tế.
Ngày 14-6 Lễ trao đổi Hiệp ước Elyseé được tổ chức tại dinh Norodom tại
Sàig̣n, giữa Hoàng đế Bảo Đại và Cao ủy Pháp tại Đông Dương Léon Pignon.
Hoàng đế Bảo Đại đọc bản tuyên bố trước Quốc dân Việt Nam:
ỀẨ. Thể chế thuộc địa do các Ḥa ước 1862, 1874 tạo nên, đă hoàn toàn thủ
tiêu, Nền Độc Lập nước nhà hiện tại và từ nay, nước Việt Nam sẽ tự điều
khiển công việc ḿnh trên trường Quốc tế cũng như về mặt nội bộ. Về phương
diện Quốc tế, nước ta đă có đủ quyền năng của một nước độc lập, quyền
ngoại giao riêng, quyền đặt sứ quán tại Ngoại quốc, quyền tiếp nhận các sứ
quán ngoại giao, quyền gửi Lănh sự đi các nước, quyền điều đ́nh và kư kết
những Hiệp ước Quốc tế cùng quyền gia nhập tổ chức LHQ." (Bảo Đại, Con
Rồng Việt Nam - Hồi Kư Chính Trị, 1913-1987 - California 1995).
Bản tuyên bố trên đây tuy chỉ là một văn bản lịch sử nhưng vẫn c̣n nguyên
giá trị trên căn bản pháp quyền và luật pháp quốc tế do lẽ, khi công bố
bản tuyên bố ấy, Hoàng Đế Bảo Đại là vị nguyên thủ duy nhất của nước Việt
Nam, độc lập và thống nhất trên danh nghĩa và được cộng đồng quốc tế công
nhận và có đầy đủ cả căn bản pháp lư quốc tế và quốc tế công pháp. Hoàng
Đế Bảo Đại là người lănh đạo duy nhất của nước Việt Nam, do Hiệp định
Elyseé 1949, có nghĩa vụ tiếp tục tôn trọng Công ước 1887 và 1895. Các nhà
lănh đạo VNCH kế tục cũng là người có đầy đủ thẩm quyền duy nhất về phía
Việt Nam tôn trọng Công ước 1887 và 1895. Nhà nước CHXHCNVN tuyệt đối
không có quyền kế thừa và chỉ là một ngụy quyền và bạo quyền.
CHẾ ĐỘ VNCH THỪA KẾ CHẾ ĐỘ QGVN DO HIỆP ƯỚC ELYSEÉ 1949
Dinh Norodom ở Sàig̣n tức dinh Toàn quyền Đông Dương tiêu biểu cho quyền
lực tối cao của Pháp ở Đông Dương (bao gồm cả Quảng Châu Loan, Quảng Đông
Trung Hoa), ngày 7-9-54 được Pháp trao lại cho Việt Nam trong một buổi lễ
long trọng với sự hiện diện của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm và Đại tướng Paul
Ély, Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Lá cờ Tam Tài của Pháp kéo xuống. Lá cờ
vàng ba sọc đỏ kéo lên thay thế. Tướng Paul Ely tuyên bố: "Nước Pháp chỉ
công nhận một chính phủ VN duy nhất, đó là chính phủ Quốc Gia Việt Nam.
Nước Pháp luôn luôn coi đó là chính phủ hợp pháp của Việt Nam" (Paul Eùly.
Líndochinedan la Fourmente. Paris, Plon 1964, trang 239).
Ngày 26-10-1956, chế độ ĐỆ I Cộng Ḥa Việt Nam được thành lập, kế thừa chế
độ Quốc Gia Việt Nam về mọi phương diện, tiếp tục được cộng đồng quốc tế
và các nước công nhận. Chế độ VNCH thừa hưởng, kế thừa và thi hành tất cả
các hiệp ước quốc tế mà chính phủ QGVN đă kư kết với các nước, các định
chế và các tổ chức quốc tế. Do đó, VNCH cũng vẫn tôn trọng và có nghĩa vụ
bảo vệ và thực hành các công ước quốc tế như công ước 1887 và 1895 Pháp kư
với Trung Hoa phân định biên giới trên đất liền và Vịnh Bắc Việt. VNCH
tham dự các Hội nghị quốc tế hàng năm với tư cách đại diện duy nhất của
nước Việt Nam dưới ngọn cờ vàng ba sọc đỏ.
Từ ngày ra đời năm 1949 cho đến 30-4-75, chính phủ QGVN và chính phủ Đệ I
và Đệ II VNCH kế thừa, cứ 4 năm một lần, phái đoàn lực sĩ Việt Nam tham dự
Thế Vận Hội (Olympic), là phái đoàn duy nhất của nước Việt Nam dưới quốc
kỳ nền vàng ba sọc đỏ.
Năm 1961, VNCH tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ về nền ḥa b́nh Ai Lao như một
quốc gia ngang hàng với các nước khác trong Hội nghị.
VNCH kư tên trong Tuyên ngôn chung của Hội nghị 14 nước về Ḥa b́nh Ai Lao
ngày 23-7-1961, trong đó có Liên Sô, Trung cộng, Pháp, Hoa Kỳ và cả CS Bắc
Việt. Trung cộng mặc nhiên nh́n nhận VNCH như một "thực thể chính trị"
trên căn bản pháp lư quốc tế của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954. Do đó, Trung
cộng không chủ trương, không đồng ư và "không giúp" CSBV xâm lăng miền Nam
(Bạch Thư TLĐD trang 32-90).
Chế độ nào cũng chỉ là một giai đoạn lịch sử. Tổ quốc và dân tộc mới là
vạn đại trường tồn. Chế độ VNCH cũng như vậy, chỉ là một chế độ 20 năm,
một nửa phần đất nước. Nhưng trước đó là chế độ QGVN, ít nhất trên danh
nghĩa là một chế độ của nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Phải trở về
căn bản luật pháp quốc tế, công pháp quốc tế, do từ Hiệp định Elyseé 1949
để xét lại công ước Pháp-Hoa 1887 và 1895. Từ hiệp định Elyseé 1949, từ
căn bản pháp lư quốc gia và quốc tế. Hiệp định 1999 và 2000 mà CSVN kư kết
với Trung cộng "phân định biên giới và lănh hải vịnh Bắc Việt" là vô giá
trị, phải tiêu hủy.
NHÀ NƯỚC CSVN TỨ CHXHCNVN TRÊN CƠ SỞ HOÀN TOÀN BẤT HỢP PHÁP
Nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tức Cộng sản Việt Nam là một
nhà nước mặc nhiên (de factor) trên thực tế chỉ là một hiện hữu của một
thực thể nhà nước nên nhà nước ấy mặc nhiên được các nước công nhận và
được vào Liên Hiệp Quốc một cách mặc nhiên. Do mặc nhiên hiện diện là một
nhà nước, nó được Hoa Kỳ thiết lập bang giao, hai bên kư Thương Ước mậu
dịch năm 2001. Nhưng trên danh nghĩa của một chính phủ hợp pháp, trên căn
bản luật pháp quốc gia, luật pháp quốc tế của văn minh nhân loại, th́
chính phủ CHXHCNVN vẫn là một chính phủ bất hợp pháp về tất cả mọi phương
diện, quốc gia và quốc tế.
Chế độ và chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa tuy đă sụp đổ nhưng vẫn là chính phủ
duy nhất hợp pháp, hợp hiến và được cộng đồng quốc tế công nhận. Sự hợp
pháp, hợp hiến ấy vẫn c̣n tồn tại nguyên vẹn trên cơ sở và sự thừa kế di
sản tinh thần và pháp lư qua cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại, một thực thể
chính trị lưu vong tị nạn, một thực tại Việt Nam Cộng Ḥa kế thừa Quốc Gia
Việt Nam.
TIỀN THÂN CỦA NHÀ NƯỚC CHXHCNVN: VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG H̉A HAY CHÍNH PHỦ
VIỆT MINH (1945-1975): BẤT HỢP PHÁP VÀ PHẢN BỘI QUỐC DÂN
Ngày 2-9-1945 Việt Minh thành lập nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa,
tuyên bố độc lập, khoảng gần 300 ngàn người nội, ngoại thành Hà Nội từ
sáng đă lũ lượt kéo về trung tâm thành phố. Lễ đài dựng tại vườn hoa Ba
Đ́nh. Tinh thần đồng bào lên rất cao. Hàng rừng cờ và biểu ngữ, đâu đâu
cũng thấy những khẩu hiệu ỀViệt Nam Độc Lập Muôn NămỂ, ỀĐả Đảo Thực Dân
PhápỂ, ỀĐoàn Kết Th́ Sống Chia Rẽ Th́ ChếtỂ, ỀThà Chết Chứ Không Thỏa Hiệp
Với PhápỂ. Đúng 15 giờ, Trần Huy Liệu, Phó Chủ Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa bước lên lễ đài giới thiệu Hồ Chí Minh. Một ông già cao mảnh
khảnh từ từ bước lên lễ đài giữa tiếng hoan hô như long trời đất lở át cả
lời giới thiệu: "Đây là cụ Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa". Mấy trăm ngàn đồng bào tham dự vỗ tay
hoan hô nhưng ai nấy đều thắc mắc: Hồ Chí Minh là ai?
ỀĐây là Chủ Tịch Hồ Chí MinhỂ lần đầu tiên dân chúng được nghe danh ông.
Sau 28 lần thay đổi tên họ, ông Hồ bước lên đài vinh quang tột đỉnh, trịnh
trọng đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập mà phần nhập đề lại dịch từ bản Tuyên
Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776 (Xem Michel McLear, The Ten Thousand day
War - Vietnam: 1945-1975. St. Martin Press Nov. 1981, trang 12).
Ông Hồ tuyên bố nước Việt Nam từ đây hoàn toàn độc lập, đoạn ông giơ cao
tay phải tuyên thệ với 5 lời thề:
Thề không điều đ́nh với Pháp!
Thề chết chứ không chịu nô lệ!
Cứ xong một lời thề th́ mấy trăn ngàn cánh tay lại nhất loạt giơ cao và hô
lớn: ỀXin Thề!Ể
Ông Hồ tiếp tục giơ cao tay, xin thề:
Thề không đi lính cho Pháp!
Thề không đưa đường cho Pháp!
Thề không tiếp tế cho Pháp!
Cứ dứt một lời thề th́ làn sóng người dự lễ giơ thẳng cánh tay ḥ hét vang
dội: ỀXin ThềỂ (xem Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Sài G̣n 1966,
trang 266-267).
Chưa tới một tháng sau lời thề Ềkhông điều đ́nh với PhápỂ c̣n vang dội
trong ḷng người, ông Hồ bí mật đi gặp Alessandri, Tư Lệnh Quân Đội Pháp ở
miền Bắc và Lignon, Phụ Tá Cao Ủy Pháp (Dô Đốc D'Argenlieu). Ngày
15-10-1945, Ông Hồ lại thân hành đến biệt thự của Jean Sainteny, gặp viên
Đại Diện Lâm Thời của Pháp để mở cuộc điều đ́nh bí mật. Saintteny sau này
tiết lộ: ỀHồ Chí Minh cần dựa vào sự giúp đỡ của nước Pháp một cách hiển
nhiên để củng cố địa vị và đè bẹp đối lậpỂ. Về các cuộc gặp gỡ bí mật này,
Sainteny viết: "Chúng tôi có một thỏa thuận chung với nhau: Hồ Chí Minh và
tôi giữ kín những cuộc gặp gỡ bí mật để công chúng không biết được mà
chúng tôi rất sợ sự phản ứng nóng nảy của họ" (Jean Sainteny, Histoire
d'une paix mangueé. Paris 1953, trang 171).
Kể từ ngày nhà nước VNDCCH ra đời cho đến cuối năm 1946, Việt Nam ch́m đắm
trong Ềbiển máu của Đảng tranhỂ. Bắt cóc thủ tiêu tiếp tục diễn ra khắp
nơi.
Và như lời của bài "Tiến Quân Ca", quốc ca của chính phủ Việt Minh vang
lừng lời điệu sắc máu: "Thề phanh thây uống máu quân thùa" Quân thù đây,
không chỉ là Pháp, lại là người Việt Nam và các Đảng, Phái Quốc Gia, đối
tượng mà CSVN chủ trương phải thanh toán.
Lá cờ đỏ sao vàng, màu máu lửa là cờ của Đảng CSVN được lấy làm quốc kỳ
của chính phủ Việt Minh dưới danh hiệu VNDCCH. Đảng Cộng sản Đông Dương mà
Cộng sản Việt Nam là hậu thân, từ năm 1930, là cờ búa liềm mầu vàng trên
nền đỏ máu, y như quốc kỳ của Liên Sô. Theo ỀTruyện kháng chiếnỂ, một
người trong cuộc kể lại, đầu năm 1940, khi c̣n ở Quảng Châu, Hồ Chí Minh
đă cho thay cờ búa liềm, lấy cờ đỏ sao vàng để biểu hiện Ềt́nh đồng chí
răng môiỂ giữa Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Trung Hoa. Cờ đảng Cộng sản
Trung Hoa nền đỏ máu lửa với 5 ngôi sao vàng. Ngôi lớn nhất ở giữa là biểu
tượng cho dân tộc Hoa Hán, bốn sao nhỏ chung quanh là biểu tượng cho các
dân tộc Mông, Hồi, Măn, Tạng. Cờ đảng Cộng sản Việt Nam lấy một sao, mặc
nhiên chấp nhận làm đàn em, hay đúng hơn là một thứ chư hầu ngoại biên của
Cộng sản Trung Hoa. Ngay từ khởi điểm, CSVN đă chạy theo ngoại bang, bội
phản truyền thống của tổ tiên mà quốc kỳ màu vàng mới là tiêu biểu của bản
thể của dân tộc Việt Nam.
TỪ QUỐC HỘI KHÓA I - 1945 ĐẾN QUỐC HỘI KHÓA IX - 2000: BẤT HỢP PHÁP, LỪA
BỊP QUỐC DÂN, BÙ NH̀N GIAN DỐI
Nền tảng của chính phủ Việt Minh do Hồ Chí Minh lănh đạo đă là PHẢN BỘI
LỜI THỀ đối với tổ quốc và phản bội nhân dân.
Ngày 18-9-1945, Hồ Chí Minh kư sắc lệnh số 14/SL vể tổ chức ỀTổng Tuyển Cử
để bầu Quốc HộiỂ cũng là để ỀHoàn chỉnh và chính thức hóa cơ quan quyền
lực dân tộc tối cao của nước VNDCCHỂ, tức là phải Ềxúc tiến việc đi đến
Quốc Hội để qui định Hiến Pháp bầu chính phủ chính thứcỂ.
Văn kiện đảng CSVN chép:
ỀQuốc Hội Khóa I do nhân dân bầu ra gồm 333 đại biểu đại diện cho cả 3
miền đất nước, là một Quốc Hội dân tộc thống nhất cả nước, của sự đoàn kết
chân thành giữa các đảng phái yêu nước và cách mạng (đảng Cộng sản, đảng
Dân chủ, đảng Xă hội), các đoàn thể nhân dân, các tôn giáo, các dân tộc
thiểu số, các nhân sĩ trí thức, kể cả sự có mặt của cựu hoàng đế Bảo ĐạiỂ.
Quốc Hội 1946 ỀMở rộng thêm 70 đại biểu Quốc Hội do hai đảng chính trị đối
lập (Việt Quốc tức VNQDĐ và Việt Cách tức VNCMĐMH), không qua bầu cửỂ. (Vũ
Văn Măo - Từ tư tưởng độc lập tự do đến sự ra đời Quốc Hội đầu tiên của
nước Việt Nam mới - Tạp chí Cộng sản, số 1 tháng 1/1996, trang 11-14, Kỷ
niệm Quốc hội CHXHCNVN).
Cựu hoàng Bảo Đại trở thành đại biểu Quốc Hội 1946, trong hồi kư "Con Rồng
VN", cựu hoàng kể lại, ông được đại biểu của ủy ban tỉnh Thanh Hóa tới
thăm (vào thời gian cựu hoàng bị Việt Minh tạm thời lưu đài ở Sầm Sơn,
Thanh Hóa), hỏi cựu hoàng có chấp nhận ứng cử dân biểu tỉnh Thanh Hóa
không? Cựu hoàng chấp nhận trên nguyên tắc. Thế rồi, Ềtrong ba tuần lễ
liên tiếp tôi không thấy ai nói ǵ cả. Đùng một cái, ngày 7 tháng Giêng,
một phái đoàn đến báo cho tôi biết cuộc bầu cử Quốc hội đă hoàn tất hôm
trước, và tôi trúng cử đại biểu tỉnh Thanh Hóa với 92% số thăm. Họ chúc
mừng tôi đă đắc cử. Nên nhớ rằng, tôi cũng chẳng biết ngày, giờ bầu cử, và
tôi cũng chẳng đi bầu"" (Bảo Đại, "Con Rồng VN", trang 222).
Các đại biểu Nam Kỳ trong Quốc Hội Khóa I, không từng ứng cử, không ai bầu
v́ tháng 9-1946, toàn cơi Nam Kỳ do Pháp tái chiếm thuộc Chính Phủ Nam Kỳ
tự trị, Việt Minh không thể tổng tuyển cử ở Nam Bộ, thế mà vẫn có các đại
biểu Nam Bộ. Hai trường hợp trên đây là sự gian trá và lừa bịp trắng trợn.
Dân số Nam Bộ là 5.5 triệu (1946) lại chỉ có 18 đại biểu trong QH trong
khi Bắc Bộ và Trung Bộ chiếm 156 ghế (không kể 70 ghế đối lập).
Dân số Hà Nội là 119 ngàn người, số cử tri đi bầu được ghi 172.765 người,
Hồ Chí Minh đắc cử 98% (!) với số phiếu 169.222 phiếu tức thêm 51.342
phiếu tưởng tượng. Nếu tính 119 ngàn đầu người kéo nhau đi bầu hết, kể cả
người đau, người già, người đi vắng, người ở nhà thương, tức là đắc cử
100% dân số (kể cả trẻ em, người bệnh hấp hối).
Với cung cách và thể thức bầu cử trong Ềsáng tạoỂ như thế, cộng đảng đă
thành lập chế độ Dân Chủ Nhân Dân Chuyên Chính Vô Sản.
Các đại biểu đắc cử hầu hết dưới nhăn hiệu khác nhau của đảng CSVN, lúc ấy
đảng tuyên bố đă tự giải tán đảng nên chỉ có một số rất ít công khai nhận
là cộng sản. (xem Thống kê dân số, thành phố Hà Nội: Annuaire Statistique
de l'Indochine, 1943-1946, trang 27 - Joseph Battinger, Vietnam: A Dragon
Embattle, NY 1967, trang 361).
Về 70 đại biểu Việt Quốc và Việt Cách bị loại ngay vào phiên họp đầu của
QH, tháng 10 năm 1946. Đại biểu Việt Quốc Cung Thúc Quỳ, kỹ sư Canh Nông
đến họp, can trường đứng lên phát biểu phản đối, tiếng nói bị dập tắt, ông
là một trong mấy dân biểu trốn thoát, c̣n lại gần 60 đại biểu Việt Quốc và
Việt Cách bị bắt ngay sau đó rồi bị thủ tiêu. Sự lừa bịp công khai, Vơ
Nguyên Giáp vẫn ở Hà Nội, chưa từng về tỉnh Quảng B́nh vận động bầu cử vẫn
đắc cử với 97%, hầu hết các đại biểu đều đắc cử từ 80% trở lên.
Đại diện chính phủ Pháp ở Bắc Việt Sainteny là một nhân chứng, cho biết
trong số 329 đại biểu th́ th́ cảm t́nh viên chiếm 250 người, thành phần
độc lập và không đảng phái ứng cử với cái mũ ấy để che đậy cho người CS,
con số này cũng tương đối ít. (Xem: Jean Sainteny, Histoire d'une paix
manquée, trang 171 - Ellen Hammer, The Struggle for Indochina, Stanford
Univ. Calif 1955 trang 142 - 145).
Hồ Chí Minh ca tụng đây là ỀQuốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam Á
Châu. Nhưng thực tế là sự thực hiển nhiên, Quốc hội ấy đă phản dân chủ và
bịp bợm ngay từ cuộc bầu cử và trong các sinh hoạt của nó vào cuối năm
1946 và đầu năm 1947.
Quốc Hội khóa I, đă biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước VNDCCH với 240
đại biểu tán thành trên 241 đại biểu dự họp. Sau khi đă loại và thanh toán
70 đại biểu Việt Quốc và Việt Cách, không có 18 đại biểu Nam Bộ dù là được
bầu và đắc cử theo sự tưởng tượng của đảng CS. Hiến pháp 1946, trong phần
mở, được tuyên bố là Ềđoàn kết toàn dân, không phân biệt giống ṇi, giai
cấp và tôn giáo - Bảo đảm các quyền tự do dân chủỂ. Ngay sau khi Hiến pháp
ban hành, tôn giáo, đảng phái đối lập đă bị triệt phá. Hiến pháp 1946 mà
hậu thân của nó là hiến pháp 1959, 1980, 1992, tuyên bố: ỀTất cả quyền
bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt NamỂ. Điều 23 Hiến pháp 1946
ghi, QH (khóa I) điều hành đất nước nhưng lại là ỀDưới sự lănh đạo của
Đảng, do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, tựa vào khối đại đoàn kết toàn
dânỂ và rằng: ỀQuốc hội ta đă hết ḷng v́ dân, v́ nước, đă làm tṛn một
cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân. (Xem: Hồ Chí
Minh toàn tập, T.VIII. Nxb Sự Thật, HN 1989, trang 694).
Nhưng QH ấy ngưng hẳn hoạt động, chưa từng được triệu tập một lần nào từ
tháng 4-1947 đến năm 1959.
NHÀ NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM TRÊN CĂN BẢN PHI PHÁP
Chế độ VNDCCH là tiền thân của chế độ CHXHCNVN ra đời, trải qua hai bản
hiến pháp 1980 và 1992. cả 2 bản hiến pháp này đều khẳng định: Chính thể
nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng ḥa. Nhưng điều 4 hiến pháp ấy lại
khẳng định độc quyền lănh đạo của đảng CSVN. Một điều 4 này thôi, tự nó đă
hoàn toàn phủ nhận chế độ dân chủ cộng ḥa, một chế độ của nhân dân, do
dân và v́ dân. Điều 4 ấy tự nó đă phủ nhận và chà đạp điều 55 của Hiến
chương LHQ về quyền tự quyết của dân tộc, nó cũng phủ nhận và chà đạp phần
mở đầu của phụ đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và điều 21 của bản Tuyên
ngôn xác định về quyền tự quyết của các dân tộc Ềư nguyện của dân phải
được coi là căn bản của quyền lực chính phủỂ (The will of the People shall
be the basis of the authority of government).
Hiến pháp 1946 đặt trên nguyên tắc ỀĐất nước Việt NamỂ là một khối thống
nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia. (Điều 2- Chương I, HP 1946, xem
Hoàng Trung Hiến và Hồng Hoa, T́m Hiểu Hiến Pháp Việt Nam Nxb Đồng Nai
2000, trang 197).
Năm 1954, Phạm Văn Đồng, trưởng phái đoàn Việt Minh với danh hiệu VNDCCH
tham dự hội nghị Geneve, và kư vào hiệp ước chia đôi đất nước, ngày 20
tháng 7 năm 1954. Chính phủ Quốc Gia không kư vào hiệp ước ấy với lập
trường tôn trọng sự thống nhất toàn vẹn của lănh thổ Tổ Quốc VIỆT NAM. Mặc
dù Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi nhân dân toàn quốc ngày 28/7/1954 nói
rằng: ỀVĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời có tính cách chính trịỂ. Một số sử gia
Pháp nhận định Ềqua văn kiện ngoại giao thực tế CSHN đă chấp nhận sự hiện
hữu thực tại (de facto) hai nước Việt NamỂ. Tự đảng CSVN, nhà nước Việt
Minh tức VNDCCH đă vi phạm và chà đạp nguyên tắc căn bản của hiến pháp
1946 qua việc kư kết Hiệp định Geneve 1954.
Qua Thư Trắng của nhà nước Việt Nam Cộng Sản về hiệp định Geneve 1954 th́
tự CSVN đă thú nhận đă mất quyền độc lập, bị Liên Sô và Trung Cộng áp lực,
kể cả cưỡng bách phải chấp nhận kư vào Hiệp định Geneve 1954. Sau này CSVN
thống trách: ỀBắc Kinh đă công nhận sự tồn tại ḥa b́nh của 4 nước Đông
Dương với 4 chế độ chính trị khác nhau. Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (miền
Bắc) và Việt Nam Cộng Ḥa (miền Nam) đều có quyền ngang nhau".
Trong khi phái đoàn CSVN đề nghị cắt từ vĩ tuyến 13, Chu Ân Lai lại gạt
đi. Từ đầu tháng 5, Chu Ân Lai đă chủ trương cắt từ vĩ tuyến 16. Phái đoàn
Trung Cộng và kể cả Molotov nghĩ rằng lấy vĩ tuyến 16 th́ mới chắc ăn. Anh
Pháp dưới áp lực Mỹ mới chịu và Nga Hoa cũng đồng ư như thế.
Thư Trắng 1980, Phạm Văn Đồng đang làm Thủ Tướng tố cáo Trung Cộng bán
đứng đồng chí CSVN trong các âm mưu của Trung Cộng về hiệp định Geneve
1954, CSVN thóa mạ Trung Cộng đă chi viện quân cụ cho Việt Minh để giúp
đạt được chiến thắng Điện Biên Phủ th́ ỀĐiện Biên Phủ là một cái vốn mà
Trung Quốc bỏ ra th́ Geneve là cái lăi mà họ đă thu nhận được. Trung Quốc
đă từng bỏ vốn ra nhiều nơi, thử hỏi rằng, trong lịch sử, đă có vụ đầu cơ
buôn bán chính trị nào với một cái vốn như thế mà lại giành được những lời
lăi như thếỂ.
Và v́ cái vốn cái lời, "Trung Cộng đă ép buộc Việt Nam kư kết Hiệp định
Geneve" và, "Hiệp nghị ấy" chỉ có lợi cho Trung Cộng và Pháp, không có lợi
cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và Cambodia. (Thư Trắng, Bộ Ngoại Giao
CSVN, HN 1980, trang 32-99 - Kiên Cường, ỀSự phản bội của những người lănh
đạo Trung Quốc tại Hội Nghị Geneve 1954 về Đông Dương. Nghiên cứu lịch sử,
số 2-1980, trang 16-22).
Từ hiến pháp 1946 đến hiến pháp 1959, 1980, 1992 nêu lên những nguyên tắc
lư tưởng như: ỀKhông phân biệt giống ṇiỂ (xem: Hiến pháp Việt Nam, std.
trang 31-32).
Năm 1977, CSVN bắt đầu mở chiến dịch đàn áp người Hoa trên toàn quốc, cao
điểm là các năm 78, 79, 80 trục xuất người Hoa ra khỏi Việt Nam.
Hiển nhiên hiến pháp của nhà nước CSVN dưới danh hiệu từ VNDCCH đến
CHXHCNVN thảy đều vô giá trị, bởi v́ tự nó đă phản bội lại và chà đạp
những ǵ nó đă tuyên bố và long trọng viết lên văn bản. Quốc hội VNCS từ
khóa I cho đến các khóa sau kế tiếp chỉ là một bộ phận công cụ của đảng
CSVN xử dụng để đóng dấu vào các văn kiện và hiệp ước định kư kết với
ngoại quốc. Do vậy, các hiệp ước, hiệp định mà Quốc hội Nhà nước CHXHCNVN
phê chuẩn hoàn toàn vô giá trị.
LIÊN MINH DÂN TỘC VIỆT NAM TRÊN TOÀN CẦU
Cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại là một phần thân mệnh dân tộc Việt Nam. Ở
nước ngoài một Liên minh Dân tộc Việt Nam ở hải ngoại quy tụ đủ mọi ḍng
họ, quy tụ đủ mọi sắc dân Kinh Thượng, đủ mọi thành phần và giai tầng xă
hội. Việt Nam Hải Ngoại có các ḍng họ thiểu số Thái, Tày, Nùng, Lô Lô,
Dao, Mường... có những họ nổi tiếng như Lư (Quảng Ninh), họ Vĩ, Linh, Nông
(Cao Bắc Lạng), Đèo (xứ Thái), Bế, Đinh, Cẩm, Hà, Bạch... (xứ Mường, Ḥa
B́nh, Ninh B́nh, Sơn Tày) Do các đợt tù binh chính trị qua Hoa Kỳ theo
diện "H.O.", ta lại gặp thêm các ḍng họ người Việt Gốc Miên như Danh,
Thạch, họ Chiêm như Chế, và hàng chục tộc danh thiểu số Tây Nguyên như Y
Nư, H'Rai, Ấy là chưa kể cộng đồng Việt Nam ở Đông Âu và Nga Sô, số cựu
đảng viên CS đă từ bỏ đảng lên đến hàng vạn người. Hơn 20 năm qua, Cộng
Đồng Việt Nam Hải Ngoại đă và đang cứu nhiều triệu bà con anh em bên quê
nhà. Ngày nay, trước họa CSVN nhượng đất và bán nước cho Trung Cộng ta lại
thêm một sứ mệnh mới. Ngọn cờ chính nghĩa cứu nước bấy lâu nước vẫn tồn
tại cùng nước, cùng sông, cùng biên cương một vùng trời Bản Giốc, Nam
Quan, Trà Cổ, Bạch Long Vỹ, Hoàng Sa, Trường Sa, đă và đang ở trong tay
Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại.
Hơn 20 năm qua, có một sự thật hiển nhiên này và đó là sự thật lịch sử:
CSVN tuy có chính quyền trong tay là hội viên LHQ, thành viên của tất cả
các tổ chức và định chế của LHQ, có trên 70 ṭa Đại Sứ trên thế giới nhưng
họ đă hoàn toàn thất bại không giương được ngọn cờ đỏ sao vàng ở bất cứ
nơi đâu. Lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn tung bay trên khắp bầu trời hải ngoại kể
cả Đông Âu.
CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM HẢI NGOẠI quy tụ đủ mọi quốc tịch, dầu vậy căn cước
tinh thần của người Việt Hải ngoại vẫn là Việt Nam. Người Việt Hải ngoại
vẫn c̣n đầy đủ quyền sở hữu tinh thần, thủ đắc di sản tinh thần của tổ
tiên, ông bà ta để lại. Đất nước là đất nước của chung. Biển trời, núi
sông là của chung. Người Việt Hải ngoại tuy không c̣n chia xẻ cái chung
hiện thực nhưng cái CHUNG tinh thần th́ vẫn c̣n đó. Mồ mả tổ tiên ông bà
cha mẹ vẫn c̣n đó ở nơi quê cha đất tổ. Anh em ḍng họ và cháu chắt đang ở
đó nơi bản quán quê nhà. Mất đất, mất biển không phải chỉ có đồng bào
trong nước đă bị mất mà cả đồng bào Việt Nam Hải ngoại cũng đă bị mất. Do
vậy ta có đủ tư cách pháp nhân và mặc nhiên (de facto) cùng có quyền sở
hữu tinh thần đối với núi rừng, sông ng̣i, biển khơi, đồng ruộng, biên
cương do tổ tiên, ông bà ta để lại. Người Việt ở hải ngoại trong hiện thực
tuy không c̣n thừa kế điền sản, đất đai sông biển, núi non của Tổ quốc
nhưng người Việt hải ngoại vẫn có quyền sở hữu tinh thần. Một họ Lư ở
Hoành Mô hay Thuận Phú Quảng Ninh đang ở Mỹ, hay ở Pháp, ta có quyền đ̣i
lại miền đất đai của đồng bào, anh em ta. Họ Đèo ở Cao Chải, Po Nậm Cúm,
Śu Sau, Bát Xát ở Lai Châu dù đang ở Mỹ hay Pháp đều có quyền đ̣i lại đất
đai biên giới đă mất. Họ Cẩm ở Thanh Thủy, Hà Giang, họ Nông ở Bản Giốc,
họ Cao ở Nà Giang, Cao Bằng, họ Bế ở Cao Lộc, Ba San, Lạng Sơn dù đang ở
Úc hay Gia Nă Đại đều có quyền đ̣i lại đất đai biên giới của tổ tiên, ông
bà cha mẹ ta. Đó là của chung, Họ Lư, họ Bạch, họ Hà ở Bạch Long Vỹ, ở đảo
Cát Bà cũng như dân hải đảo Cô Tô, Vĩnh Thục, Long Châu dù đang ở
Vancouver, Gia Nă Đại , dù đă là công dân Gia Nă Đại, vẫn có quyền đứng
lên đ̣i lại quyền sở hữu tinh thần ở Vịnh Bắc Việt mà CSVN đă dâng cho
Trung Cộng. Người Việt hải ngoại không có tư cách pháp nhân đ̣i chia quyền
với chính quyền CSVN, hay đoạt quyền của họ. Là công dân Mỹ, người Việt
không có quyền dùng bạo lực lật đổ chế độ CSVN nhưng ta có đầy đủ pháp
quyền quốc tế đứng lên đ̣i lại quyền sở hữu tinh thần vùng đất và biển mà
CSVN đă nhượng cho Trung Cộng. Ta có quyền thừa kế tinh thần những ǵ của
đất nước do tổ tiên ông bà ta để lại. Ấy là chưa kể, người Việt Hải Ngoại
c̣n đầy đủ pháp quyền đại diện ḍng họ ḿnh, anh em bà con ông nội, ngoại
và đồng bào ḿnh ở trong nước để đứng lên đ̣i lại đất. Trong cuộc kháng
chiến chống Mông Cổ, lần thứ ba năm 1285, vua Trần Nhân Tông bảo triều
thần và tướng sĩ: ỀThanh Hóa là phên dậu của nước taỂ. Trong cuộc Lam Sơn
khởi nghĩa chống Minh (1418-1428) vua Lê Thái Tổ bảo các nghĩa sĩ: ỀThuận
Hóa là ḷng dạ của taỂ, tức căn cứ hậu cần tiếp liệu của Lam Sơn. Vua Minh
Mệnh (1820-1841) trong một cuộc tuần du Quảng Nam, vua đứng trên đỉnh đèo
Hải Vân, hướng về phía Tây, chỉ dăy Trường Sơn, bảo các can thần: ỀPhải mở
rộng thêm biên cương về phía ấy, bên kia Trường Sơn th́ thế nước mới được
an toànỂ. Và thời nay, ta có thể nói, Người Việt Hải Ngoại là chân trời
mới, một hậu cứ an toàn lớn mạnh của đất nước Việt Nam trên toàn cầu. Sứ
mệnh của Người Việt Hải Ngoại vào thời đại này là cứu nước, đẩy mạnh cuộc
đấu tranh để cùng đồng bào trong nước lấy lại đất đai biên giới, vùng biển
vịnh Bắc Việt, Hoàng Sa và 7 đảo Trường Sa mà Bắc phương đă cướp đoạt của
ta.
Đất đă mất! Biển đă mất!
Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại phải lănh sứ mệnh cứu nước, giành lại đất,
giành lại biển đă mất.
Giờ lịch sử đă điểm!
Không ai có thể cứu nước Việt Nam ngoài người Việt Nam. Không ai thương
người Việt Nam bằng người Việt Nam. Sứ mệnh của người Việt hải ngoại là kế
thừa và tiếp nối quốc thống và truyền thống dân tộc, kế thừa và tiếp nối
di sản tinh thần và pháp lư của QUỐC GIA VIỆT NAM dưới ngọn cờ vàng ba sọc
đỏ.
NGUỒN GỐC CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ: QUỐC KỲ LONG TINH
Tháng 6 năm Quư Hợi 1863, vua Tự Đức cử một Phái bộ qua Pháp và Tây Ban
Nha xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ mà Pháp đă chiếm. Phái bộ do
Phan Thanh Giản, Tiến Sĩ, Hiệp biện Đại học sĩ làm Chánh sứ, Phó sứ là
Phạm Phú Thứ, Tiến sĩ, Tham tri Lại bộ và Án sát Ngụy Khắc Đản, Tiến sĩ,
có Linh Mục Nguyễn Hoàng và Trương Vĩnh Kư làm thông ngôn, đáp tàu
ỀEuropéenỂ Ềđi TâyỂ. Đến Pháp phái bộ Việt Nam mới biết rằng, phái bộ đi
xa mà đến triều kiến Hoàng Đế Pháp Nă Phá Luân Đệ III (Napoleon), trên xe
phải cắm quốc kỳ theo nghi lễ ngoại giao. Phái bộ làm một lá cờ vàng. Một
Thừa sai Pháp cố vấn rằng, cờ màu vàng lại là biểu hiệu của sự khẩn cấp
kéo trên các tàu báo nguy, có bệnh ôn dịch. Nhưng phái bộ lại không thể
t́m được thợ thêu, thêu rồng trên cờ vàng. Không rơ vị Sứ thần nào, hẳn là
quán thông dịch lư đă đề nghị làm một vạch ngang màu đỏ trên nền cờ vàng,
cũng gọi là cờ long tinh, quốc kỳ của nước Đại Nam. Cờ vàng một sọc đỏ
phát xuất từ bây giờ, vào đầu tháng 9/1863 (23). Một vạch theo dịch kinh
là cơ (trong Quái thể) là thời, vị của quẻ. Một vạch ngang (-) là cơ bản
của dịch (sinh hóa, vận hành), gọi là hào. Mỗi quẽ dịch gồm 6 hào, tức 6
vạch quẻ, càn 3 vạch ngang (-): quẻ khôn , 3 vạch đứt đoạn (-). Hào một
vạch ngang và hào vạch đứt đôi gọi là hai hào cơ ngẫu, một thực, một hư.
Cơ phân ra thành ngẫu, ngẫu hợp lại thành cơ, phân hợp, ly tán, giao ḥa
lẫn nhau trong vận hành sinh hóa. Đại thành chi quái cấu thành bởi 6 vạch,
mỗi vạch là một hào. Hào với giao đồng nghĩa tức là tương giao mà vạch
nên. Đếm từ hào cuối trở lên ta có sơ hào, nhị hào, tam hào, tứ hào, ngũ
hào và thượng hào. Một vạch không đứt đoạn (-) là cái MỘT nhất quán, là
Thái cực mà phân ra thành một vạch đứt ngang thành lưỡng nghi âm và dương,
trong dương lại có âm mà trong âm lại có dương nên thành tứ tượng. Tứ
tượng sinh ra Bát quái. Tương truyền Thái Hạo Phục Hy thị là vị đế thượng
đă sáng tạo ra 8 quẻ Ềbát quáiỂ. Bát quái hai lần phối hợp tám 8X8=64 quẻ
mỗi quẻ 64 hào: 64X6=384 hào, cứ từ đó mà tính ra theo sự sinh hóa vận
hành nhưng khởi đầu lại là một vạch (-). Trong quẻ càn, quẻ thứ nhất trong
34 quẻ ở phần Thượng Kinh Chu dịch, tượng trưng cho TRỜI. Đây là quẻ đại
cát. Vạch cơ hữu tượng trưng cho rồng (sơ cửu: tiềm vong, vật dụng) vạch
sơ cửu quẻ càn cũng là Ềnguồn gốc ban đầu của muôn vậtỂ. Có tác giả cho
rằng, cờ vàng một vạch đỏ khi tung bay trước gió trông tựa như rồng bay
nên gọi là cờ Long Tinh. Điều này không đúng. Năm Khải Định thứ II, 1917,
lấy cờ long tinh nền vàng một vạch đỏ làm Quốc kỳ của nước Đại Nam.
Ngày 17-4-1945, chính phủ Việt Nam dưới thời Nhật chiếm đóng ra đời, thay
cờ Long Tinh thành cờ nền với quẻ ly ở giữa, nên gọi là cờ quẻ ly. Theo
Thủ Tướng Trần Trọng Kim, th́ ly (kinh dịch), hai vạch ngoài liền (dương),
vạch giữa đứt đoạn (âm), Ềlà chủ phương Nam, c̣n có nghĩa là lửa, tượng
trưng cho văn minh, ánh sáng tỏa ra bốn phương). (Xem: Trần Trọng Kim, Một
Cơn Gió Bụi (Kiến văn lục, Saigon, Vinh Sơn 1969, trang 61).
Chính phủ Quốc Gia Việt Nam ra đời năm 1949, cờ quẻ ly đổi thành cờ vàng
ba sọc đỏ, tượng của quẻ Càn là Trời. Sơ cửu là tiềm Long. Cửu nhị (vạch
thứ 2) là hiện Long tại Điền, rồng lớn đă xuất hiện ngoài đồng. Cửu tam
(hào 3), tượng trưng cho người quân tử suốt ngày hoạt động mạnh mẽ không
ngừng (luôn luôn thận trọng, răn dè (cửu tam: quân tử chung nhật càn càn,
tịch dịch, nhược, lệ, vô cửu). Quẻ Càn c̣n tượng trưng cho vua, quân tử,
cha, đại nhân, danh nhân, người già, bậc trưởng giả. Về động vật tượng
trưng cho ngựa, sư tử, voi, thiên nga. Về tĩnh vật tượng trưng cho vàng,
ngọc, châu báu; về hôn nhân tượng trưng cho sự kết hôn với gia đ́nh danh
giá. Về thực phẩm, tượng trưng cho thức ăn ngon quư. Về màu sắc, càn tượng
trưng cho màu đỏ sậm hay màu đen huyền.
Dân tộc Việt lấy Đất làm cơ sở nuôi thân, dưỡng tính, sinh thành, làm nơi
Ềsống gởi thác vềỂ nên màu vàng là màu của sự SINH. Dương biến, âm hợp mà
sinh thủy, hỏa, mộc, kim, thổ thể hiện qua ngũ sắc (5 màu). Cờ ngũ sắc
(hay ngũ hành), 5 lá mỗi lá 5 màu, h́nh vuông ở giữa, mỗi lá một màu khác
nhau, đen (thủy) hỏa (lửa) xanh (mộc) trắng (kim) vàng (thổ). Riêng màu
vàng là màu tượng trưng cho vua "ngai vàng, áo vàng, khăn vàng, thuyền
vàng, giường vàng".". Đậu đại khoa tên tuổi, quê quán được ghi trên bảng
vàng. Người đại thọ qua đời, có chút (cháu 3 đời) coi là đại phúc (ngũ đại
đồng đường, tang phục của chút khăn vàng và áo màu vàng).
Màu vàng (thổ) và màu đỏ (càn) không khắc mà giao ḥa.
Ư nghĩa của Càn rất trọng đại gồm đủ nguyên, hanh, lợi, trinh. Nguyên có ư
là lớn, là căn bản đại biểu cho vạn sự vạn vật. Hanh là thông đạt, không
bị trở ngại vướng vấp. Lợi là ḥa, tốt, không hại. Trinh là trong sạch mà
thẳng thắn, c̣n có nghĩa thẳng, ngay và chắc.
Càn phát âm gần với kiên. Không đặt tên là quẻ trời Ềv́ Trời là hinh tượng
có thể nh́n thấy, c̣n càn là để đặt tên cho công năng của trời. Càn có tên
từ khi Chu Văn Vương làm ra quái tửỂ.
Màu vàng hành Thổ là Đất. Quẻ Khôn tượng trưng Đất, c̣n có nghĩa là cội
nguồn, là mẹ. Quẻ Khôn có đầy đủ 4 đức nguyên hanh lợi trinh (Duy lợi,
trinh của khôn khác lợi trinh của càn v́ âm dương bất đồng). Khôn tượng
trưng cho điền dă, bụng, dạ dày, chữ tên họ có mang chữ thổ. Về ngũ sắc là
màu vàng và đen, về ngũ vị là ngọt. (Chu dịch tường giải, Nguyễn Quốc Nam
biên soạn, Nxb VHTT, HN 1998, trang 177, 189, 235, 238, 276, 278.
Vậy, cờ vàng ba sọc đỏ theo kinh Dịch và ngũ hành là Trời-Đất. Đạo thờ
Trời-Đất là nguyên đạo của dân tộc Việt Nam.
Cha Trời - Mẹ Đất là biểu hiện trên màu cờ vàng ba sọc đỏ. Sau này, Quốc
Hội của nước Việt Nam mới sẽ soạn thảo, biểu quyết và ban hành hiến pháp
quy định Quốc kỳ và Quốc ca mới. Cho đến ngày lịch sử vĩ đại ấy, cờ vàng
ba sọc đỏ vẫn đương nhiên là biểu tượng tối cao của Tổ Quốc cũng là biểu
tượng của luật pháp quốc gia và quốc tế mà Quốc Dân Đại Hội lấy làm sở cứ
tinh thần.
Thế kỷ thứ XIX, từ thời Gia Long cho tới triều Tự Đức, tổ tiên ta sinh ra,
lớn lên phục vụ và chiến đấu dưới lá cờ vàng Long tinh. Quốc hiệu Việt Nam
khai sinh với lá cờ vàng 4 chữ son đỏ ỀViệt Nam Quốc SứỂ, kéo trên đỉnh
cột buồm, con thuyền Việt Nam lướt sóng băng qua Động Đ́nh Hồ.
Nửa cuối thế kỷ XX, cả nước lại rực rỡ màu cờ vàng ba vạch đỏ tung bay, kể
từ ngày 15/4/1945, ngày chính phủ Việt Nam độc lập ra đời sau 80 năm Pháp
đô hộ, khắp nước từ thượng du đến Hà Nội, Huế trở vào Nam phất phới tung
bay ngọn cờ vàng quẻ ly đỏ, xuất hiện trước cờ của đảng CSVN màu máu sao
vàng. Rồi từ năm 1948, cờ vàng ba sọc đỏ, cờ Càn Khôn, cờ Cha Trời Mẹ Đất
lại tung bay khắp nước suốt dọc Bắc Nam (ngoại trừ vùng Việt Minh).
Ngọn cờ thiêng liêng này đă được Liên Hiệp Quốc, cộng đồng quốc tế và các
đại cường công nhận.
Thông thường, một chế độ như chế độ Việt Nam Cộng Ḥa đă sụp đổ th́ biểu
tượng Quốc kỳ và Quốc ca cũng chỉ c̣n là di tích lịch sử. Nhưng sau ngày
30/4/1975 cho đến hôm nay, và cho đến khi CSVN sụp đổ vẫn tiếp tục tung
bay khắp nơi trên thế giới. Cuộc diễn hành văn hóa năm 2000 ở Nữu Ước do
LHQ bảo trợ, ban tổ chức quốc tế đă công nhận cờ vàng ba sọc đỏ là Quốc kỳ
Việt Nam duy nhất, được trịnh trọng giương cao, dẫn đầu đoàn diễn hành của
Việt Nam không ai biết đến ngọn cờ đỏ sao vàng, ngọn cờ đảng vô sinh, một
nắm đất (sao vàng, hành thổ) nằm giữa một biển lửa. Nắm đất ấy bị nung
thành đất chết, làm sao sinh? Không sinh tất phải diệt. Cờ vàng ba sọc đỏ
là cờ Đất Trời, cờ Cha Trời Mẹ Đất là sự sinh thành, là đạo SINH, nhất âm
- Mẹ nhất dương chi vi ĐẠO (một âm một dương là ĐẠO. Đạo Trời Đạo Người).
Quốc Dân Đại Hội xuất phát từ một tập hợp Liên Minh các thành phần Dân
Tộc, một tập hợp Mở, khởi điểm của vận hành mới dẫn đạo bởi Quốc kỳ nền
vàng ba sọc đỏ và Quốc ca "Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi"...
Quốc Dân Đại Hội thành h́nh, mở rộng và hoạt động dưới Quốc kỳ màu vàng ba
sọc đỏ là sự kế thừa và tiếp nối Quốc Gia Việt Nam, và hai chế độ Đệ I và
Đệ II Việt Nam Cộng Ḥa, hậu thân hợp pháp, hợp hiến của Quốc Gia Việt Nam
vẫn tiếp tục được cộng đồng quốc tế công nhận.
Căn bản pháp lư quốc gia và quốc tế của Quốc Dân Đại Hội cũng là sự chính
danh, thừa kế di sản tinh thần và các hiệp định quốc tế, từ hiệp định
Elyseé 1949 đến hiệp định Geneve 1954 và các hiệp định quốc tế khác, vẫn
c̣n nguyên giá trị tự tại, chỉ có CSVN xé bỏ một cách thô bạo, phi pháp
vào ngày 30-4-1975.
CĂN BẢN PHÁP LƯ QUỐC GIA VÀ QUỐC TẾ CÔNG PHÁP LƯ CỦA CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM
HẢI NGOẠI
Những văn kiện của LHQ qua Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn về dân tỵ nạn Việt Nam và
thuyền nhân đă đủ giá trị xác minh tư cách tỵ nạn chính trị của CỘNG ĐỒNG
VIỆT NAM HẢI NGOẠI trên toàn thế giới. Riêng ở Hoa Kỳ, tư cách tỵ nạn CS
đă được minh thị qua các cuộc điều trần của Hành pháp Gerald Ford tại
Thượng Viện vào tháng 4 - 1975, nổi bật nhất là cuộc điều trần của Đại Sứ
Philippe Habid ngày 15-4-1975, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật và ngân
sách cho phép 129,000 di dân tỵ nạn cộng sản đến Mỹ. Tổng Tư Lệnh Quân Lực
Hoa Kỳ tại Thái B́nh Dương mở chiến dịch ỀTrận gió liên hồiỂ (The Frequent
Wind) đưa dân tỵ nạn CSVN đến Mỹ. Chiến dịch này kết thúc vào ngày
2-5-1975.
Bằng đạo luật do TT Gerald Ford ban hành, dân tỵ nạn Việt Nam được hưởng
các khoản trợ cấp dân sinh, phiếu thực phẩm, y tế, giáo dục, huấn nghệ.
Các ngân khoản này, không thuộc ngân sách của liên bang và tiểu bang mà là
ngân sách riêng do Quốc hội chuẩn chấp dành cho dân tỵ nạn Việt Nam chứ
không phải ngân sách trợ cấp xă hội (welfare).
Tư cách tỵ nạn Cộng Sản, tức tư cách chính trị, một lần nữa được minh thị
qua lệnh của Tổng Thống Jimmy Carter đếm 10-12-1979. Đêm ấy hơn 10,000 dân
Việt và dân Mỹ, tay cầm nến dưới sự hướng dẫn của nữ danh ca dân ca Joan
Baez (nguyên là dân phản chiến phản tỉnh) diễn hành từ quảng trường Quốc
Hội (The Mall) kéo đến trước Ṭa Bạch Ốc đưa thư thỉnh cầu lên Tổng Thống
Jimmy Carter yêu cầu Hoa Kỳ vớt thuyền nhân trên biển Đông. TT Jimmy
Carter thân hành ra tận cửa ngoài đứng bên trong hàng rào sắt, tiếp nhận
thỉnh nguyện thư do nữ danh ca Joan Baez trao cho Tổng Thống.
Ngay đêm ấy, TT Carter trực tiếp ra lệnh cho Đô Đốc Tổng Tư Lệnh Quân Lực
Mỹ ở Thái B́nh Dương phải vớt thuyền nhân trên biển Đông. Sau đó Hành pháp
xin Quốc hội cho phép nhận 1500 thuyền nhân từ các trại tỵ nạn được vào Mỹ
mỗi tháng. Quốc Hội Hoa Kỳ lại thông qua một đạo luật thứ hai và ngân sách
dành cho chương tŕnh cứu giúp thuyền nhân và đưa vào Mỹ định cư.
Lần thứ 3, do quyết định của TT George Bush xin Quốc hội cho phép được đưa
các tù nhân chính trị (HO) và gia đ́nh được qua Mỹ định cư. Bằng một đạo
luật và ngân sách, QH Mỹ đă chuẩn chấp và TT Bill Clinton ban hành. Cựu tù
nhân chính trị Việt Nam Cộng Ḥa đến Mỹ với tư cách tỵ nạn chính trị được
xác minh rơ rệt qua luật và ngân sách mà Tổng thống Hoa Kỳ ban hành. Các
ngân khoản trợ cấp cho cựu tù nhân chính trị và gia đ́nh do ngân sách đặc
biệt mà Quốc hội Mỹ đă chuẩn chấp dành riêng cho cựu tù nhân chính trị
Việt Nam Cộng Ḥa chứ không phải là ngân sách của tiểu bang và liên bang
về trợ cấp xă hội thông thường (welfare).
CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM HẢI NGOẠI mà từ nền tảng này QUỐC DÂN ĐẠI HỘI h́nh
thành một căn bản pháp lư vững chắc và minh bạch: CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM HẢI
NGOẠI là cộng đồng tỵ nạn chính trị, một thực thể Việt Nam lưu vong ở nước
ngoài, một thực thể Việt Nam thống nhất do lẽ, CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ xuất hiện
trên đất nước VIỆT NAM thống nhất và toàn vẹn lănh thổ. CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM
HẢI NGOẠI là một thực thể VIỆT NAM thống nhất Bắc, Trung, Nam, Kinh và
Thượng cùng với 56 dân tộc anh em Ềbầu bí cùng giànỂ. Và đó là cơ sở tinh
thần và là cương lĩnh dân tộc.
CAO THẾ DUNG
The Ford Foundation's Fellowship - USA and France 1975-1976.
|
|